Tin nổi bật

Chương III: Thanh niên Ninh Bình tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế - văn hoá, xây dựng Chủ nghĩa xã hội (1954 - 1965)

Email In PDF.

I. Khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - văn hoá (1954 - 1960).

Trong không khí hân hoan, phấn khởi sau khi quê hương được hoàn toàn giải phóng (ngày 30/6/1954), nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình hăng hái bắt tay ngay vào việc ổn định đời sống, hàn gắn vết thương chiến tranh.

Cán bộ, đoàn viên, thanh niên được hướng dẫn học tập các chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành lực lượng đi đầu vừa tuyên truyền, vận động nhân dân, vừa tích cực thực hiện chủ trương ổn định tư tưởng; khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế; đấu tranh chống mọi luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, chống cưỡng ép di cư, giúp đồng bào giáo dân trở lại quê hương phục hồi sản xuất, xây dựng đời sống mới.

Trước khi phải rút chạy, những phần tử phản động
đội lốt tôn giáo ra sức xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ gây tâm lý hoang mang, lo sợ “bị trả thù”, “Chúa đã vào Nam”... trong các vùng giáo dân. Trong các vùng bị tạm chiếm trước đây, hàng chục ngàn héc-ta ruộng đất bị bỏ hoang, hàng ngàn con trâu bò bị giết hại... Chỉ riêng huyện Kim Sơn có hơn 100 đồn, bốt lớn (chưa kể đồn nhỏ và tháp canh) cùng nhiều bãi mìn, dây kẽm gai và vành đai trắng. Xã Ninh An (Gia Khánh) có hơn 1.500 mẫu ruộng bị bỏ hoang. Hậu quả chiến tranh do địch gây ra về kinh tế rất nặng nề. Đến tháng 10 - 1954, cả tỉnh có 2.259 gia đình bị đói mà chính quyền phải trợ giúp khẩn cấp. Số nguỵ quân, nguỵ quyền được ta tuyên truyền, vận động ra trình diện chính quyền cách mạng cũng khá lớn. Tính đến tháng 12 - 1954, có 3.395 người trình diện được giáo dục và giúp họ trở về quê quán lao động mưu sinh.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 9 năm 1954) về tích cực đấu tranh chống lại mọi âm mưu phá hoại của địch, hàn gắn vết thương chiến tranh và sớm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, Tỉnh uỷ Ninh Bình chủ trương huy động sức mạnh đoàn kết của toàn dân, giao trách nhiệm cho các đoàn thể trong đó lấy lực lượng cán bộ, đoàn viên, thanh niên đảm nhận vai trò đi đầu trong việc đẩy mạnh sản xuất và tích cực chống địch cưỡng ép di cư, giúp đồng bào trở về quê hương, giải tán các trại tập trung trong đó trại tập trung lớn ở Phát Diệm bị giải tán ngày 24-11-1954 và đồng bào giáo dân được các đoàn thể, chính quyền tạo điều kiện trở về gia đình tham gia đẩy mạnh sản xuất, tạo dựng cuộc sống ổn định, ấm no, hạnh phúc.

Những huyện có đồng bào bị đói và có giáo dân rời trại tập trung của địch trở về được tỉnh trợ cấp thóc gạo, cho vay tiền để khôi phục sản xuất. Cụ thể là Nho Quan, Gia Viễn, Gia Khánh... tỉnh cấp trên 20 tấn thóc để cứu đói. Riêng huyện Yên Mô, tỉnh cho vay 400.000 đồng và 6 tấn thóc giống để nông dân phát triển sản xuất.

Bước vào năm 1955, tình hình chung toàn tỉnh có nhiều thay đổi tạo niềm phấn khởi và tin tưởng trong nhân dân. Đời sống các tầng lớp nhân dân ổn định, nhất là lớp trẻ được sống trong không khí vui tươi, lành mạnh, được học văn hoá nhất là từng bước thanh toán nạn mù chữ trong thanh thiếu niên ngày càng đạt kết quả. Những thanh niên hăng hái, tích cực được xem xét kết nạp vào Đoàn ngày càng nhiều, phần lớn trong số này đã lập thành tích tốt trong phong trào khai hoang, phục hoá, chống mù chữ, xây dựng đời sống mới.

Tháng 1 năm 1955, Tỉnh uỷ mở đợt thi đua hưởng ứng “Chiến dịch sản xuất mùa Xuân” do Trung ương phát động. Chủ trương của tỉnh nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân và đến từng cơ sở. Dưới sự hướng dẫn của Ban thường vụ Tỉnh Đoàn, các cấp bộ Đoàn đề ra kế hoạch cụ thể vận động đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào thi đua. Các đội thanh niên xung kích được hình thành làm lực lượng nòng cốt đảm nhận các công việc làm thuỷ lợi, khai hoang mở rộng diện tích canh tác, xây dựng các tổ đổi công. Đến giữa năm 1955, nhân dân và tuổi trẻ toàn tỉnh khai hoang phục hoá được 5.448 mẫu đất, cấy 100% diện tích, trồng được 6.264 mẫu ngô, 4.656 mẫu khoai lang, 1.525 mẫu sắn, 586 mẫu đậu các loại.

Các cấp bộ Đoàn trong tỉnh hưởng ứng cuộc thi đua của tỉnh phát động với khẩu hiệu: “Thi đua sản xuất vụ xuân, ra quân làm thuỷ lợi”. Các chi đoàn mở hội nghị bàn kế hoạch triển khai đẩy mạnh công tác sản xuất với tinh thần hồ hởi, phấn khởi. Hàng trăm đội thanh niên xung phong làm thuỷ lợi được thành lập. Huyện đoàn cử cán bộ bám sát công trường và báo cáo tình hình với tỉnh để kịp thời biểu dương, khen thưởng. Tính đến giữa năm 1955, toàn tỉnh huy động được 543.954 ngày công nạo vét sông Chanh, sông Ghềnh, đắp đê sông Đáy, đê biển Cồn Thoi, với tổng khối lượng đào đắp 3.374.062 m3 đất, trong đó lực lượng thanh niên là nòng cốt.

Đồng thời tích cực tham gia đẩy mạnh sản xuất, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ về vận động xây dựng tổ đổi công để giúp nhau trong sản xuất. Tỉnh tổ chức huấn luyện và điều động 1.179 cán bộ bao gồm khá đông cán bộ Đoàn về các xã vận động xây dựng tổ đổi công và đóng thuế nông nghiệp. Các huyện Nho Quan, Gia Viễn là hai nơi có phong trào xây dựng tổ đổi công khá nhất trong tỉnh. Điển hình, xã Gia Hưng (Gia Viễn) xây dựng được 83 tổ đổi công, trong đó 17 tổ đổi công thường xuyên, lực lượng đoàn viên, thanh niên tham gia tích cực, được Tỉnh đoàn và huyện đoàn cử cán bộ về nghiên cứu rút kinh nghiệm.

Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự nỗ lực của các đoàn thể nhất là phát huy có hiệu quả vai trò hăng hái, đi đầu của đoàn viên, thanh niên, năm 1955 là năm đầu tiên sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Ninh Bình là tỉnh đạt được kết quả rất quan trọng ổn định sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Đến giữa năm 1955, toàn tỉnh nhập kho nhà nước 13.503 tấn thóc thuế, vượt kế hoạch 503 tấn thóc, trước hạn định 20 ngày, trở thành một trong số ít tỉnh trên miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước. Năng suất lúa năm 1955 đạt 17,29 tạ trên 1 ha, sản lượng đạt 140.283 tấn, tăng 46.961 tấn so với năm 1939 (năm xảy ra chiến tranh thế giới lần thứ hai).

Năm 1955, tỉnh tập trung khôi phục nhà máy điện nhỏ ở thị xã, xây dựng một số cơ sở khai thác đá vôi, phục hồi và phát triển một số cơ sở công nghiệp, nhất là tiểu thủ công nghiệp, gồm 125 lò rèn, 1.540 khung cửi dệt vải, 1.792 go dệt chiếu, 26 lò vôi, 19 lò gạch, 1 lò sành, 1 lò sứ... là những ngành nghề truyền thống của tỉnh.

Sau hội nghị cán bộ Đoàn toàn quốc (đầu năm 1956), Tỉnh đoàn triển khai trong toàn tỉnh cuộc vận động học tập chính trị cho cán bộ, đoàn viên thanh niên theo chủ trương của Trung ương Đảng và Tỉnh uỷ về đánh giá những kết quả của cải cách ruộng đất, đồng thời thấy rõ những sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa sai.

Thực tế cho thấy mối quan hệ giữa cán bộ, đoàn viên cũ và đoàn viên mới được kết nạp, đề bạt sau cải cách ruộng đất chưa có sự đoàn kết, thậm chí có nơi còn đả kích lẫn nhau. Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Tỉnh uỷ, Tỉnh đoàn tập trung chỉ đạo công tác tư tưởng qua đợt học tập chính trị với tinh thần kiên quyết sửa chữa sai lầm. Trong các cuộc họp ở cơ sở, cán bộ Đoàn, đoàn viên làm theo hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh với thái độ chân thành, cởi mở “Sai đâu sửa đấy, không e ngại, không lẩn tránh”, thẳng thắn tiến hành tự phê bình, phê bình trong nội bộ, kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi thái độ đả kích, thiếu xây dựng. Phát huy lòng yêu nước, niềm tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Bác Hồ, cuộc sinh hoạt chính trị được chia thành nhiều đợt, qua mỗi đợt nhận thức tư tưởng của cán bộ, đoàn viên được nâng lên một bước đưa đến kết quả chung là ổn định được tình hình nội bộ Đoàn, tạo nên không khí đoàn kết vượt qua được giai đoạn khó khăn, xáo trộn, hoang mang, mất niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đoàn viên.

Trong thời gian tiến hành sửa sai, toàn tỉnh kết nạp được  1.800 đoàn viên mới, trong đó có 85 đoàn viên theo đạo Công giáo. Từ cuối năm 1955 và đầu năm 1956, hầu hết các cơ sở Đoàn trong tỉnh đều tổ chức học tập Nghị quyết của Trung ương Đảng (tháng 10 - 1955) đổi tên Đoàn thanh niên cứu quốc thành Đoàn thanh niên lao động Việt Nam theo kế hoạch hướng dẫn của Trung ương Đoàn.

Cùng với cuộc vận động sinh hoạt chính trị rộng lớn, sâu sắc này, tỉnh Đoàn đề ra các kế hoạch hướng dẫn hành động nhằm tạo nên mối gắn kết giữa tổ chức Đoàn với đoàn viên, thanh niên và cán bộ Đoàn với đoàn viên, thanh niên phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót.

Tháng 4 - 1956, Tỉnh đoàn Ninh Bình tổ chức Đại hội thanh niên tiên tiến toàn tỉnh, gồm 275 cán bộ, đoàn viên, thanh niên có thành tích xuất sắc được bầu chọn từ các thôn, xã trong toàn tỉnh tham gia. Các báo cáo điển hình của cá nhân và tập thể khơi dậy niềm tin, tinh thần phấn khởi, hăng say lao động, học tập, rèn luyện của đoàn viên, thanh niên được các đại biểu tuyên truyền, phổ biến về tận cơ sở. Đại hội thanh niên tiên tiến toàn tỉnh đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của phong trào thanh niên toàn tỉnh.

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Trung ương Đoàn, tháng 7 - 1956, Tỉnh đoàn triệu tập Hội nghị đại biểu Đoàn toàn tỉnh gồm 189 đồng chí tham gia. Đây là Hội nghị học tập chính trị quan trọng kéo dài suốt 6 ngày, vừa quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ, Trung ương Đoàn, vừa liên hệ, phân tích tình hình, tìm ra giải pháp thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua trong tỉnh. Hội nghị tiến hành bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ II.

Tháng 10 năm 1956, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II diễn ra tại thủ đô Hà Nội. Đại hội vô cùng vinh dự, phấn khởi được Bác Hồ kính yêu và các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước đến dự và phát biểu với Đại hội. Bác Hồ dạy: “Muốn Đoàn củng cố và phát triển thì mọi đoàn viên phải gương mẫu”. Đoàn đại biểu của tuổi trẻ Ninh Bình tích cực tham gia mọi hoạt động của Đại hội và tiếp xúc với các đoàn đại biểu quốc tế.

Sau hội nghị đại biểu Đoàn, trên phạm vi toàn tỉnh  diễn ra nhiều phong trào, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia. Điển hình là phong trào chống hạn, với khẩu hiệu: “Vắt đất ra nước”, Đoàn huy động 25.405 đoàn viên, thanh niên tham gia đào được hàng nghìn giếng lấy nước tưới cho 18.405 mẫu lúa mầu khỏi bị hạn. Kết quả trên làm cho nhân dân tin tưởng, khắc phục tư tưởng bị động, bi quan.

Liên tiếp trong 3 năm liền từ năm 1956 đến 1958, Ninh Bình bị hạn lớn. Trước tình hình đó, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ, Tỉnh uỷ, Trung ương Đoàn và Tỉnh Đoàn phái nhiều đoàn cán bộ về các địa phương tổ chức, cổ vũ tuổi trẻ và nhân dân ra sức chống hạn. Với tinh thần triển khai kế hoạch của tỉnh và nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II, Tỉnh Đoàn phát động phong trào “Tiến sâu vào chiến trường, thực hiện kế hoạch sản xuất Đông Xuân, mỗi đoàn viên, thanh niên là một chiến sỹ xung kích trên mặt trận chống hạn”. Tuổi trẻ toàn tỉnh, từ nông thôn đến thị xã, thị trấn, kể cả học sinh trong các nhà trường đều có trách nhiệm tham gia chống hạn, coi chống hạn như chống giặc trên chiến trường. Với tinh thần đó, kết quả chống hạn được thể hiện rõ rệt trong từng thời gian, từng địa phương. Chỉ tính trong 41 ngày từ cuối tháng 12 - 1957 đến tháng 1 - 1958, toàn tỉnh huy động 39.334 đoàn viên, thanh niên đào 71 con mương mới, nạo vét 264 ngòi cũ dài 139.603 mét, đắp 42.536 mét đường khuyến nông, đắp 88 đập tổng chiều dài 2.393 mét và tổ chức tát nước tập đoàn giải quyết nước cho 4.166 mẫu ruộng bị hạn.

Chống hạn cứu lúa, làm theo lời dạy của Bác Hồ, quyết tâm thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ trong việc huy động tối đa sức mạnh của nhân dân toàn tỉnh để cấy hết diện tích, đoàn viên thanh niên Ninh Bình đem sức khoẻ và trí thông minh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong cuộc đấu tranh khắc phục thiên tai không chỉ “Vắt đất ra nước” mà còn “Vắt sỏi ra nước, thay trời làm mưa”. Họ đã làm được điều kỳ diệu đó trong những ngày, tháng quyết liệt sạm nắng, cháy da với tinh thần “Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên”, khúc ca phổ thơ của Bác Hồ tặng thanh niên xung phong luôn được vang lên.

 Ngày 3 tháng 2 năm 1958, Hội nghị Ban chấp hành Tỉnh Đoàn mở rộng ra Nghị quyết quan trọng nhận lời giao ước thi đua với Tỉnh đoàn Hưng Yên về toàn bộ nội dung thi đua chống hạn. Hội nghị bổ sung nhiệm vụ giao ước với Đoàn thanh niên tỉnh Hưng Yên một số nội dung sau:

- Tích cực giáo dục vận động đoàn viên, thanh niên dẫn đầu quyết tâm khắc phục khó khăn, đào mương khai ngòi, đào giếng đắp đập, tát nước, dập tắt được hạn hán, cấy hết diện tích và vượt mức.

- Phát huy khả năng lao động sáng tạo của thanh niên, tìm mọi nguồn phân, dùng phân đạm, đảm bảo tăng năng suất vụ chiêm, thực hiện khẩu hiệu mới 3 gánh hoặc 3 cân phân xanh, phân chuồng.

- Trong việc thực hiện nhiệm vụ năm 1958, đẩy mạnh giáo dục quảng đại đoàn viên, thanh niên hiểu rõ về lợi ích, nguyên tắc của tổ đổi công, tự nguyện tham gia và vận động mọi người cùng tham gia, phát huy mọi tác dụng trong việc xây dựng, củng cố tổ đổi công.

- Phát huy tác dụng trong việc đảm bảo cấy hết diện tích, ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất trong việc đào giếng lấy nước ngay cả những nơi khó khăn.

- Qua thực tế công tác chống hạn sản xuất kết hợp giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm đoàn viên, thanh niên, phục hồi sinh hoạt và đẩy mạnh được công tác ở các phân đoàn, nhất là các phân đoàn lâu nay không họp, củng cố thêm một bước bộ máy của chi đoàn.

Hội nghị nhất trí đề nghị của Khu Đoàn và Trung ương Đoàn làm trọng tài cho cuộc thi đua giữa tuổi trẻ hai tỉnh Ninh Bình và Hưng Yên đồng thời chuyển giúp 5 điểm thi đua của Ninh Bình tới các tỉnh khác ở đồng bằng Bắc Bộ. Giao ước thi đua là một sáng kiến hay xuất phát đầu tiên từ Tỉnh đoàn Hưng Yên và liền sau đó được Tỉnh đoàn Ninh Bình hưởng ứng và bổ sung nội dung, đề nghị có trọng tài và đề nghị tuổi trẻ các tỉnh cùng tham gia tạo nên không khí sôi nổi, hào hứng làm cho phong trào thi đua chống hạn thắng lợi phát triển nhanh chóng. Khu Đoàn và Trung ương Đoàn hoan nghênh sáng kiến tiếp theo của Ninh Bình và kêu gọi các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, liên khu IV... tích cực hưởng ứng. Chỉ sau một thời gian ngắn, nhiều tỉnh đăng ký tham gia thực hiện các nội dung giao ước thi đua do Tỉnh đoàn Hưng Yên và Tỉnh đoàn Ninh Bình nêu ra.

Giữa năm 1958, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, Ninh Bình mở Đại hội chiến sỹ thi đua nông nghiệp toàn tỉnh gồm 115 đại biểu tham dự, trong đó có nhiều đoàn viên, thanh niên. Đại hội tổng kết kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp, xây dựng tổ đổi công, nhất là tổng kết phong trào thi đua chống hạn. Đại hội biểu dương những thành tích xuất sắc của 116 chi đoàn trong tỉnh về phong trào thi đua chống hạn.

Ngày 15 - 3 - 1959, quân dân và tuổi trẻ Ninh Bình vô cùng phấn khởi vinh dự được đón Bác Hồ kính yêu về thăm.  Tại xã Khánh Cư (Yên Khánh), Bác đến tận cánh đồng Chằm, động viên nhân dân và đoàn viên, thanh niên đang đào mương dẫn nước. Tiếp sau đó, Người lại tới cánh đồng chân núi Cánh Diều thuộc xã Ninh Sơn (Gia Khánh) thăm hỏi bà con nông dân và đoàn viên, thanh niên đang tát nước chống hạn.

Tại thị xã Ninh Bình, Bác Hồ nói chuyện với hơn 2.000 cán bộ chủ chốt và nhân dân. Người khen ngợi nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình đạt nhiều thành tích xuất sắc trong công tác chống hạn, cứu được hơn 40.000 mẫu lúa khỏi bị hạn. Bác ân cần căn dặn: "Tỉnh nhà rất anh hùng và lập được nhiều chiến công trong kháng chiến. Trước ta kháng chiến, bây giờ ta tiếp tục một cuộc kháng chiến khác. Trước ta chống đế quốc để làm gì? Để độc lập, tự do, nay độc lập, tự do rồi, ta chống đế quốc mới là thiên tai: bão lụt, hạn, sâu..." (1).

Thực hiện huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 20 - 3 - 1959, Ban thường vụ Tỉnh uỷ ra chỉ thị về đẩy mạnh sản xuất vụ chiêm xuân năm 1959. Chỉ thị nêu rõ: "Không được để lúa bị hạn, bình quân mỗi hécta lúa bón 11 tấn phân; phấn đấu trồng vượt diện tích cây màu và cây công nghiệp, đảm bảo đúng kế hoạch và chỉ tiêu chăn nuôi của tỉnh".

Tháng 4 năm 1959, tỉnh phát động đắp đê biển Cồn Thoi và giao trách nhiệm cho Đoàn thanh niên làm lực lượng xung kích. Sau khi nhận nhiệm vụ của Tỉnh uỷ giao cho, Ban chấp hành Tỉnh đoàn đã họp triển khai kế hoạch phát động phong trào thanh niên xung kích tham gia đắp đê biển Cồn Thoi. Hưởng ứng phong trào của Tỉnh đoàn, đông đảo đoàn viên thanh niên từ các huyện, thị xã trong tỉnh đã tích cực tham gia. Các Huyện đoàn tập trung lực lượng đoàn viên thanh niên và hành quân bằng đường bộ về Kim Sơn. Các đồng chí lãnh đạo Tỉnh đoàn về tận công trình chỉ đạo, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đoàn viên thanh niên. Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 1959, Tỉnh đoàn huy động 2.500 lượt cán bộ, đoàn viên thanh niên, trong đó có 1.150 lượt cán bộ, đoàn viên thanh niên huyện Kim Sơn tham gia đắp đê biển. Cuối năm 1959, công trình đê biển Cồn Thoi hoàn thành, biến 720 ha bãi biển hoang vu toàn cây sú vẹt thành ruộng trồng cói, cấy lúa. Nông trường Bình Minh được thành lập. Đây là một chiến công của tuổi trẻ huyện Kim Sơn và tỉnh Ninh Bình làm theo lời Bác Hồ dạy.

Đồng thời với cuộc chiến chống hạn hán diễn ra nhiều năm liền, phong trào làm thuỷ lợi được coi trọng ngay từ sau ngày toàn tỉnh được giải phóng. Bước vào năm 1956, Tỉnh Đoàn chỉ đạo các huyện, thị đoàn vận động thanh niên tham gia đào mương, đắp đập, đắp đê phòng chống lụt bão... Toàn tỉnh huy động 18.277 thanh niên tham gia tát nước chống úng 7 ngày đêm liền, trong điều kiện nước sông cao hơn mặt ruộng 5cm nhân dân chán nản bỏ về. Đồng chí Mai và 3 đồng chí khác ở Gia Khánh can đảm lấy thân mình nằm chắn nước cho các đồng chí đoàn viên, thanh niên khác có thời gian chuyển đất đến đắp chặn dòng nước tràn. Nhiều đồng chí đoàn viên ở Gia Phú (Gia Viễn), nhảy xuống cống ngăn nước khi cống bị vỡ để đồng đội kịp đắp chặn. Theo thống kê của 49 xã trong tỉnh, có 313 đoàn viên thanh niên nêu gương dũng cảm được nhân dân bình bầu là điển hình xuất sắc và 46 đoàn viên, thanh niên khác được tỉnh tặng bằng khen, Tỉnh Đoàn được nhận cờ thi đua luân lưu do Uỷ ban nhân dân tỉnh tặng.

Trong hai năm (1957 - 1958), phong trào thanh niên tích cực tham gia làm thuỷ lợi phát triển. Riêng năm 1958, đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh theo lời kêu gọi của Tỉnh uỷ tham gia giải quyết được 17.701 mẫu ruộng có nước cày vỡ và làm ải cho 26.958 mẫu.

Hướng tới Đại hội thanh niên tích cực lao động XHCN các cấp trong tỉnh và Trung ương từ năm 1959 đến năm 1960 nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn: 15 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, 30 năm thành lập Đảng, mừng thọ Bác Hồ 70 tuổi; thực hiện chủ trương mở đợt thi đua lớn của Tỉnh uỷ và Trung ương Đoàn với các phong trào: Làm thuỷ lợi, làm phân bón và cải tiến kỹ thuật, Ban chấp hành Tỉnh Đoàn họp bàn kế hoạch và kêu gọi đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh hoàn thành xuất sắc những mục tiêu thi đua qua từng đợt mang tên như: “Phất cao cờ Tháng tám”, “Sao vàng Tháng tám”, “Sức trẻ hiến dâng Đảng”, “Ngày đêm cùng với miền Nam”, “Về đích trước thời gian”, “Lập thành tích mừng thọ Bác Hồ”...

Tiếp tục phát huy những kết quả của những năm trước, trong hai năm (1959 - 1960) thiết thực lập thành tích hướng tới Đại hội thanh niên tích cực lao động XHCN, tuổi trẻ toàn tỉnh hồ hởi triển khai kế hoạch của Tỉnh Đoàn. Trong một thời gian ngắn, huyện đoàn Nho Quan huy động 3.000 đoàn viên thanh niên làm thuỷ lợi đào đắp trên 6.360m3 đất vượt chỉ tiêu của công trường giao 20%. Đoàn viên, thanh niên huyện Yên Mô hoàn thành khối lượng 6 tháng trong 30 ngày. Đoàn viên, thanh niên huyện Yên Khánh phá mức tỉnh giao cho huyện 80.000m3 lên 147.999m3. Các huyện khác trong tỉnh cũng đều vượt mức của tỉnh, huyện giao. Trong những tháng cuối năm 1959, tuổi trẻ Ninh Bình tham gia 93.383 ngày công (toàn tỉnh 206.001 ngày công) và đào đắp được 236.031m3 trong tổng số 442.409m3 của toàn tỉnh, được tỉnh biểu dương, khen thưởng.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tỉnh uỷ “Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu”, Tỉnh Đoàn chỉ đạo các huyện Đoàn lập các đội thanh niên xung kích tập trung từng thời gian để sẵn sàng đảm nhiệm những việc khó, nơi xa... Nhiều đội thanh niên xung kích mang tên: “Đội xung kích Paven” (nhân vật trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy), “đội xung kích Giáp Văn Khương” (Chiến sỹ thi đua toàn quốc lập chiến công xuất sắc trên quê hương Ninh Bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp)... được thành lập.

Với tinh thần “Vì miền Nam ruột thịt”, đồng chí Nguyễn Văn Chiến, cán bộ phân đoàn thôn Văn Lai (Khánh Vân, Yên Khánh) cùng 13 đoàn viên, thanh niên “đội xung kích chiến đấu” 6 đêm liền, mỗi đêm đào từ 6m3 lên 9m3 đất, gấp đôi định mức lao động cả xóm trong cùng thời gian. Nhân dân địa phương rất hoan nghênh tinh thần lao động của đoàn viên thanh niên và tặng danh hiệu “Đội xung kích tên lửa”.

Đồng chí Thiệp, đoàn viên thanh niên Công giáo, cán bộ Ban chấp hành chi đoàn xã Ninh An (Gia Khánh) với tinh thần trách nhiệm, có sáng kiến sắp xếp công việc trong đội hợp lý, giảm “giờ chết” và động tác thừa trong lao động đưa năng suất từ 3m3 lên 4m3 bình quân, cuối cùng toàn phân đoàn thanh niên đưa năng suất lên 11m3...

Trong “Đêm thuỷ lợi vì đồng bào và thanh niên miền Nam”, đồng chí Bão chi đoàn Hồng Phong ghé vai đẩy tảng đất nặng trên 1 tạ từ dưới hồ lên để mở đường cho đơn vị vượt qua khó khăn. Đơn vị hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian và đổi tên gọi “Đêm thuỷ lợi vì miền Nam” thành tên gọi mới “Đêm thuỷ lợi kết nghĩa Ninh Bình - Bạc Liêu”.

Trong phong trào làm thuỷ lợi của tỉnh, tuổi trẻ Ninh Bình góp công sức và làm việc quên mình vì quê hương đất nước, góp phần vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Tính chung toàn tỉnh, năng suất trung bình của đoàn viên, thanh niên đạt từ
5,6m3 đất trở lên, đặc biệt có phân đoàn do có cải tiến, hợp lý hoá công việc và thời gian đạt 11,3m3 /người/ ngày. Điển hình, huyện Yên Khánh trong một năm mỗi đoàn viên, thanh niên đào đắp 120m3. Ninh Bình trở thành tỉnh dẫn đầu toàn miền Bắc về công tác thuỷ lợi, bình quân mỗi năm trên dưới 15m3/ người. Trong năm 1959, tuổi trẻ Ninh Bình tham gia trên 1 triệu ngày công, đắp được trên 6 triệu m3 đất, được Trung ương Đoàn tặng Bằng khen, đánh giá là một trong những đơn vị dẫn đầu toàn miền Bắc về thành tích làm thuỷ lợi.

Thực hiện khẩu hiệu “Tranh thủ cống hiến thật nhiều cho Chủ nghĩa xã hội”, đoàn viên, thanh niên nông thôn ý thức sâu sắc vai trò xung kích là làm sao cho “đủ nước, nhiều phân” để tăng năng suất cây trồng. Nhiều chiến dịch, nhiều phong trào làm phân bón được phát động, như “Chiến dịch làm phân bón Điện Biên Phủ”, “Chiến dịch làm phân bón kỷ niệm ngày thành lập Đoàn”, “Phong trào 10 gánh 1.000 cân”. Các em nhi đồng cũng có phong trào phù hợp lứa tuổi “Em lo cho hố phân đồng”, “Em chăm cho lúa mùa thêm hạt”...

Trong đợt thi đua mang tên “Hiến dâng cho Đảng” tiến tới kỷ niệm ngày thành lập Đảng, chi đoàn Hồng Phong (Nho Quan) một đêm làm được 8.300 gánh phân các loại, bình quân mỗi đoàn viên 59 gánh. Đồng chí Ngoan, thôn Dân Chủ (Yên Mô) xung phong đi xa trên 10 cây số vào rừng tìm nguồn phân xanh. Gắn liền với lòng căm thù Mỹ - Diệm gây ra vụ thảm sát tại nhà tù Phú Lợi, huyện đoàn Nho Quan phát động đợt làm phân ngắn ngày lấy tên “Căm thù Mỹ -  Diệm”. Đoàn viên, thanh niên được nghe nói chuyện về những tội ác của Mỹ - Diệm ở miền Nam, nhiệm vụ của đồng bào và đoàn viên thanh niên miền Bắc trong cuộc đấu tranh giành thống nhất nước nhà, khí thế thi đua càng thêm sôi nổi. Riêng đợt làm phân bón “Căm thù Mỹ - Diệm”, huyện Nho Quan làm được 41.350 tấn phân các loại, trong đó đoàn viên và thiếu niên đóng góp 4.000 tấn trong phong trào “Kế hoạch nhỏ”.

Tháng 1 năm 1959, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII tiến hành tại thị xã Ninh Bình. Đây là sự kiện chính trị quan trọng được nhân dân và tuổi trẻ toàn tỉnh chào đón. Đại hội quyết định những nhiệm vụ về đẩy mạnh sản xuất, cải tạo XHCN nhằm đưa Ninh Bình tiếp tục tiến lên. Để lập thành tích chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ, hàng vạn đoàn viên, thanh niên hăng hái tham gia các phong trào thi đua, trước mắt là tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp với phong trào “đủ nước, nhiều phân” nhằm tăng năng suất.

Sau thời gian chuẩn bị vụ sản xuất đông xuân, đoàn viên, thanh niên trong tỉnh làm được 1.896.925 gánh phân các loại. Để đảm bảo năng suất cần có lượng phân bón lót, bón thúc, đón đòng, Tỉnh Đoàn phát động  “Phong trào 18 gánh” (trước đây là phong trào  10 gánh) nhân kỷ niệm ngày thành lập Đoàn. Năm 1959, phong trào được đẩy lên với đợt thi đua ngắn ngày mang tên “Sao vàng Tháng Tám” để kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh (2 - 9). Kết thúc đợt thi đua, thanh niên đã lấy được 327.000 gánh phân, vượt kế hoạch đưa ra ban đầu là hơn 10.000 gánh.

Qua các phong trào hành động cách mạng, các cấp bộ đoàn trong tỉnh tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức chính trị cho đoàn viên, thanh niên. Tỉnh Đoàn tổ chức học tập cho 1.342 cán bộ, đoàn viên về ý nghĩa và những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong những năm hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, nhất là nêu lên những đóng góp của tuổi trẻ, đặc biệt là qua các tấm gương điển hình trong tỉnh. Nhiều cuộc mít tinh, tuần hành diễn ra khắp nơi lên án Mỹ - Diệm, ủng hộ đồng bào và thanh niên miền Nam. Huyện đoàn Gia Viễn tổ chức được 18 cuộc mít tinh, biểu dương lực lượng thanh niên trên mặt đê, lấy 21.781 chữ ký “Căm thù Mỹ - Diệm”, lấy tên đoạn đê vừa được đắp cao là “Đê thống nhất Bắc Nam”...

Đúng vào thời điểm đang diễn ra phong trào thi đua sôi nổi tiến tới kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh (2-9), Ninh Bình bị lụt nặng. Như vậy, chỉ trong vòng mấy năm, nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình phải phấn đấu khắc phục những thiệt hại do thiên tai gây nên: Trận bão lớn năm 1956 tàn phá mùa màng, làm đổ hàng nghìn nóc nhà; tiếp đó ba năm bị hạn nặng; rồi đến lụt úng “nhấn chìm” lúa màu dưới dòng nước sâu... nhưng nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình đoàn kết một lòng theo lời kêu gọi của Đảng, dũng cảm chiến thắng thiên tai.

Tháng 5 năm 1959, Đại hội đại biểu Đoàn thanh niên lao động tỉnh Ninh Bình lần thứ III diễn ra tại thị xã Ninh Bình, 250 đại biểu đại diện cho 17.270 đoàn viên tham dự. Đại hội đánh giá cao và biểu dương những cống hiến xuất sắc của tuổi trẻ Ninh Bình trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, sự lớn mạnh của tổ chức Đoàn và sự phát triển của phong trào thanh niên. Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ cụ thể cho thời gian tới. Đại hội bầu Ban chấp hành Tỉnh Đoàn gồm  21 uỷ viên. Đồng Chí Lê Văn Tu được bầu làm bí thư Tỉnh Đoàn.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ III, các cơ sở Đoàn phát động phong trào thi đua mang tên “Sao vàng Tháng Tám”, “Căm thù Mỹ Diệm”, “ủng hộ đồng bào và thanh niên miền Nam” tạo thêm động lực với quyết tâm “Phát huy vai trò xung kích, đẩy mạnh sản xuất lập thành tích mới và giúp nhau ổn định đời sống”... Toàn tỉnh lập 386 đội thanh niên xung kích với những tên gọi khác nhau đầy khí thế, như “Đội Hồng Quân”, “Đội tình nguyện quân”... để thực hiện mọi nhiệm vụ của Đảng giao. Với khẩu hiệu “Tiến quân trên ba mặt”, đó là đắp đê, làm phân, học bổ túc văn hoá đều đạt được mục  tiêu đề ra.

Tổng kết phong trào thi đua “Sao vàng Tháng Tám” và “Căm thù Mỹ - Diệm”, “ủng hộ đồng bào và thanh niên miền Nam” vào cuối năm 1959, Tỉnh Đoàn trao tặng gần 10.000 “Giấy lập chiến công” cho các tập thể và cá nhân đã lập thành tích xuất sắc làm phân bón, chống lụt và học bổ túc văn hoá.

Trong những ngày đầu hình thành tổ đổi công, Tỉnh đoàn kết hợp với Nông hội tỉnh mở các lớp tập huấn tổ trưởng tổ đổi công, đây là đội ngũ cốt cán của phong trào. Qua những năm vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệm từ khi toàn tỉnh mới có 49 xã xây dựng được tổ đổi công cử 279 đại biểu đi dự hội nghị tổ đổi công do Tỉnh uỷ triệu tập. Đến năm 1957, có 107 xã xây dựng được 553 tổ đổi công gồm 8.294 hộ nông dân tham gia. Đội ngũ tổ trưởng phần lớn là do cán bộ chi đoàn đảm nhiệm, vì thực tế không ít bà con nông dân chưa thật tin tưởng hiệu quả của tổ đổi công.

Trên cơ sở phát triển tổ đổi công trong nông nghiệp, đến cuối năm 1959, tỉnh mở một số lớp huấn luyện thu hút hàng nghìn cán bộ tham gia chuẩn bị cho việc xây dựng hợp tác xã. Tổ chức Đoàn đã chọn cử nhiều tổ trưởng tổ đổi công là cán bộ, đoàn viên tham gia lớp học này. Anh chị em rất phấn khởi sau khi học xong, nắm được đường lối, chính sách của Đảng và nêu cao quyết tâm góp phần tích cực vào việc xây dựng quan hệ sản xuất mới ở nông thôn. Đồng chí Kim, thanh niên Công giáo xã Tô Hiệu (Kim Sơn) kiên trì thuyết phục gia đình và bà con tham gia hợp tác xã; đồng chí Bão tổ trưởng tổ lao động hợp tác xã Sinh Dược (Gia Sinh) kiên trì thuyết phục gia đình hàng tháng trời. Tại Đại hội thanh niên tích cực lao động Xã hội chủ nghĩa của huyện, các đồng chí đều có chung tâm tư: “Chỉ có đi theo con đường của Đảng mới xứng đáng là thanh niên thế hệ Bác Hồ, gia đình mới được ấm no, hạnh phúc”. Vai trò của tổ chức Đoàn trong xây dựng hợp tác xã khá rõ và được các cấp uỷ đánh giá cao.

Đến tháng 12 năm 1960, Ninh Bình cơ bản hoàn thành cuộc vận động xây dựng hợp tác hoá nông nghiệp. Toàn tỉnh có 78.749 hộ nông dân, bằng 88% tổng số hộ nông dân tự nguyện gia nhập 1.110 hợp tác xã nông nghiệp, với hơn 80% diện tích canh tác. Vùng đồng bào theo đạo Công giáo có 59% hộ giáo dân vào hợp tác xã, vùng núi có 31% hộ nông dân vào hợp tác xã. Song song với việc lãnh đạo hợp tác xã nông nghiệp, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ VII (1 - 1959) đề ra phương hướng, nhiệm vụ cải tạo và xây dựng công nghiệp địa phương, tích cực phát triển thành phần kinh tế công nghiệp quốc doanh, chú trọng xây dựng công nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Để đẩy mạnh sản xuất trên các công trường xây dựng, tổ chức Đoàn hình thành các tổ sản xuất thanh niên làm đầu tàu lôi kéo lực lượng thanh niên. Ở công trường đá núi Cánh Diều, trong tổ thanh niên tiên tiến có các đoàn viên như đồng chí Lữ, đồng chí Chắt và một số thanh niên khác buộc dây thừng treo mình trên lưng chừng núi choòng đục đá để nổ mìn nêu gương dũng cảm lao động cho các đồng chí khác noi theo. Ở công trường xây dựng cầu Gián, đồng chí Thình, đoàn viên vừa được kết nạp xung phong lặn xuống đáy sông sâu 14m làm việc.

Được sự hướng dẫn của tổ chức Đoàn, thanh niên công nhân không chỉ nêu cao tinh thần tích cực, mà còn dẫn đầu phong trào cải tiến kỹ thuật, nhất là trong phong trào giao khoán năng suất. Đồng chí Vân (công trường núi Cánh Diều) có sáng kiến tạo chỗ đứng thuận lợi để đốt mìn tăng năng suất 100%. Sáng kiến này được áp dụng trên toàn công trường đẩy năng suất tăng bình quân 70%. Đoàn viên Đào Văn Cẩm được tuyên dương Anh hùng lao động, là anh hùng lao động đầu tiên ở tỉnh ta và được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá II. Đoàn viên, thanh niên công trường đề ra sáng kiến tổ chức những “Ụ đá tiết kiệm của thanh niên”, sau đó tổ chức Đoàn trên công trường cầu Gián cũng áp dụng sáng kiến này với tên gọi “Kho tiết kiệm của thanh niên” và xây dựng được 5 kho tiết kiệm nguyên vật liệu.


--------------------------------------------------------------------------------

Nhằm đảm bảo phát huy tốt vai trò của Đoàn trong cải tiến quản lý xí nghiệp, Tỉnh Đoàn tập trung hướng dẫn các cơ sở làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục. Từ các lớp huấn luyện, các cuộc sinh hoạt Đoàn, mọi đoàn viên đều được cổ vũ phát biểu ý kiến đóng góp cho cán bộ và lãnh đạo đơn vị. Nhiều tờ báo tường, báo liếp được đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia viết bài với ý kiến xây dựng thẳng thắn không rụt rè, e ngại. Do tư tưởng thông suốt, tinh thần lao động của đoàn viên, thanh niên từng bước chuyển biến tốt. Mọi người giúp nhau thực hiện có kết quả các khẩu hiệu “Đi sớm, về muộn”, “Chống giờ chết”, “Bỏ động tác thừa”... Vào tháng 7 năm 1959, phong trào phát triển trên diện rộng. Tỉnh Đoàn tổ chức hội nghị gồm các đại biểu huyện, thị xã kiểm điểm việc triển khai thực hiện kế hoạch. Đến tháng 10 năm 1959, Tỉnh Đoàn mở Đại hội thanh niên tích cực công - nông trường trong tỉnh. Quán triệt sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Đại hội biểu dương những điển hình tiên tiến và làm rõ những kinh nghiệm và bài học trong công tác Đoàn.

Tác động của công tác giáo dục về nhận thức, tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên công nhân được thể hiện qua nhiều tấm gương tại Đại hội. Đồng chí Nguyễn Văn Trường, một người lao động giản đơn gánh đất, gánh vôi, đá... tranh thủ thời gian học nghề, không quản mệt nhọc, quyết tâm phấn đấu vươn lên. Động lực tinh thần giúp anh trở thành người thợ nề có sáng kiến, tăng năng suất lắp ghép cốp pha từ 2,3m2 lên 4m2 đến 5m2 cho tới 6,5m2 một ngày. Sáng kiến của anh được phổ biến toàn tổ và cả đơn vị. Tổ chức Đoàn lấy tấm gương của đoàn viên Nguyễn Văn Trường động viên đoàn viên, thanh niên thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Việc gì khó thanh niên làm”.      

Giữa lúc nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình đang phấn khởi, nỗ lực kết thúc thắng lợi kế hoạch 3 năm cải tạo Xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, ngày 18 tháng 10 năm 1959, Bác Hồ về thăm Ninh Bình và dự hội nghị sản xuất Đông Xuân do Tỉnh uỷ tổ chức. Đây là lần thứ hai Người về thăm Ninh Bình trong năm 1959 (lần thứ nhất vào tháng 3 năm 1959), Bác biểu dương nhân dân và tuổi trẻ toàn tỉnh trong công tác chống hạn. Tại Hội nghị, Bác Hồ khen ngợi những cố gắng của Ninh Bình trong việc đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân. Người nhắc nhở các đại biểu phải chú trọng hơn nữa đến việc sản xuất nông nghiệp, trong đó đặc biệt là áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất:

"Nước phải đủ, phân phải nhiều

Cày sâu tốt giống, cấy đều dảnh hơn

Trừ sâu diệt chuột chớ quên

Cải tiến công cụ là nền nhà nông

Ruộng nương quản lý gia công

Tám điều đầy đủ thóc bông đầy bồ" (1)

Thực hiện huấn thị của Bác Hồ, Tỉnh uỷ Ninh Bình  phát động phong trào thi đua hoàn thành thắng lợi vụ sản xuất Đông Xuân (1959 - 1960); đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, chú trọng sản xuất lương thực cả thóc và màu, tạo ra lực lượng dự trữ, đẩy mạnh trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cây cói, cà phê, lạc...

Mở đầu phong trào thi đua sản xuất vụ Đông Xuân là công trình đào sông Bến Đang, Tỉnh Đoàn huy động gần 10.000 đoàn viên, thanh niên tham gia công trường đào sông Bến Đang (Nho Quan). Sau hai tháng lao động hăng say với khí thế cách mạng cao quyết vượt qua mọi khó khăn, gian khổ như phải đục 40.000m3 đá ngầm dưới lòng sông, phải ngâm mình trong nước nhiều giờ có lúc cả ban đêm. Sông Bến Đang dài 3000m, rộng 10m, sâu 8m được hoàn thành ngày 6-5-1959, phục vụ tưới tiêu cho 5.000 ha thuộc hai huyện Nho Quan và Gia Viễn.

Từ năm 1958, đặc biệt là năm 1959, Tỉnh uỷ tập trung chỉ đạo cuộc vận động cải tiến kỹ thuật nhằm tạo năng suất mới trên cơ sở đảm bảo hai khâu tưới tiêu nước và phân bón. Trong cuộc đấu tranh giữa tư tưởng cũ và mới, đoàn viên, thanh niên đi đầu chống mọi biểu hiện của tư tưởng bảo thủ, lạc hậu... mạnh dạn tiếp thu kỹ thuật mới tương đối toàn diện bằng những phương pháp: cày sâu, bừa kỹ, giống tốt, cấy dày vừa phải. Các cơ sở Đoàn mở hội nghị bàn về việc làm ruộng thí điểm. Lúc đầu nhiều hợp tác xã chưa tin thanh niên có thể làm được, nhưng chi đoàn đứng ra đảm bảo. Phong trào làm ruộng thí điểm áp dụng kỹ thuật mới từng bước trở thành phổ biến.       

Trên mặt trận tiến quân vào khoa học kỹ thuật có nhiều đoàn viên, thanh niên bền bỉ thực hiện cải tiến công cụ. Nữ đồng chí Biêu, cán bộ phân đoàn, người đội trưởng đội sản xuất của hợp tác xã Gia Phong (Gia Viễn) có hoàn cảnh khó khăn, song đồng chí ý thức được trách nhiệm của người đoàn viên, tích cực, vận động chị em thực hiện cấy dầy và hạ công điểm hợp lý cho hợp tác xã. Đồng chí Biêu là người đi đầu sử dụng và vận động chị em sử dụng xe cút kít để vận chuyển phân ra đồng.

Để nhân rộng điển hình, Tỉnh Đoàn Ninh Bình mở hội nghị tổng kết thực hiện cuộc vận động cải tiến kỹ thuật trong đoàn viên, thanh niên. Sau Hội nghị việc cải tiến, áp dụng kỹ thuật vào sản xuất trở thành phong trào rộng rãi. Các biện pháp ngâm mạ, ủ phân, chọn giống, cày sâu, bừa kỹ, cấy dày vừa phải, sử dụng công cụ cải tiến... ngày càng được áp dụng rộng rãi. Với vai trò đi đầu tiến quân vào khoa học kỹ thuật, thanh niên thực sự mang lại hiệu quả thiết thực trong việc tăng năng suất, góp phần đắc lực đảm bảo kế hoạch sản xuất Đông Xuân (1959 - 1960) của tỉnh nhà.

Đồng thời với phong trào thi đua phát triển sản xuất nông nghiệp, trong hai năm (1959 - 1960), cuộc vận động cải tiến chế độ quản lý xí nghiệp quốc doanh phát triển trên diện rộng. Các đơn vị được chọn làm thí điểm là Nông trường Đồng Giao, Xí nghiệp đá Hệ Dưỡng, Nhà máy xay Ninh Bình, Ty Bưu điện đều có những chuyển biến tích cực. Đông đảo công nhân trong đó phần lớn là đoàn viên, thanh niên hăng hái tham gia đề xuất nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, lề lối làm việc...

Tháng 1 năm 1958, Ninh Bình mở chiến dịch “Xuân hè diệt dốt” nhằm thực hiện thắng lợi cuộc vận động lớn “Thanh toán nạn mù chữ” do Trung ương đề ra. Nhân dân và tuổi trẻ toàn tỉnh sôi nổi hưởng ứng với nhiều hình thức, như mở “Hội nghị Diên Hồng diệt dốt”, phát động phong trào thi đua “Người học siêng năng, người dạy nhiệt tình”. Cán bộ, đoàn viên là đội quân chủ lực trong phong trào diệt dốt. Chỉ tính riêng trong chiến dịch “Xuân hè diệt dốt”, toàn tỉnh có 27.417 người trong độ tuổi đến lớp, đạt 93% kế hoạch. Sáu xã Gia Ninh, Gia Phú, Gia Phong, Gia Lâm (Gia Viễn); Lạc Vân, Sơn Lai (Nho Quan) và đội công nhân đường sắt Đồng Giao thanh toán xong nạn mù chữ cho những người trong diện. Tính đến ngày 2-9-1958, toàn tỉnh thanh toán mù chữ
cho 29.193 người ở độ tuổi từ 12 đến 13, đạt tỉ lệ 97%.
Ninh Bình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhất. Đoàn thanh niên Ninh Bình là đơn vị lá cờ đầu trong phong trào xoá mù chữ toàn miền Bắc.

Phát huy thành tích phong trào diệt dốt, thực hiện nghị quyết Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ III (tháng 5 - 1959) về việc tổ chức động viên đoàn viên, thanh niên đi học bổ túc văn hoá với mục tiêu đưa tỉ lệ 10% hiện có lên 30% đến 60%. Tỉnh Đoàn hướng dẫn các huyện đưa chỉ tiêu học bổ túc văn hoá vào một trong những điểm tính thi đua của cá nhân và tập thể. Tổ chức Đoàn vận động cán bộ, giáo viên, học sinh bổ sung vào đội ngũ giáo viên dạy bổ túc văn hoá. Khẩu hiệu hành động của Đoàn thanh niên là: “Học bổ túc văn hoá là nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đoàn viên”. Phong trào học bổ túc văn hoá từng bước phát triển sâu rộng. Tiêu biểu là các xã Gia Thắng (Gia Viễn), Xích Thổ, Gia Tường (huyện Gia Viễn, nay là huyện Nho Quan). Khánh Phú (Yên Khánh).

Tại Đại hội tổng kết công tác bổ túc văn hoá tỉnh Ninh Bình (ngày 26-2-1960), nhiều cán bộ, đoàn viên, thanh niên được tặng Danh hiệu Chiến sỹ bổ túc văn hoá. Truyền thống hiếu học của tỉnh được thế hệ trẻ tiếp tục phát huy, đưa Ninh Bình thành một trong những tỉnh đạt tỉ lệ mãn khoá các lớp bổ túc văn hoá cao nhất miền Bắc.

Cùng với các phong trào thuỷ lợi hoá, hợp tác hoá, bổ túc văn hoá, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tỉnh Ninh Bình hăng hái tham gia đẩy mạnh sản xuất, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ Tổ quốc. Năm 1959, Nhà nước ban hành Luật nghĩa vụ quân sự, Tỉnh đoàn hướng dẫn các huyện phối hợp với cơ quan quân sự tổ chức tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong các tầng lớp thanh niên về trách nhiệm của tuổi trẻ với việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Ngày 20-7-1960, cán bộ, công nhân, đoàn viên, thanh niên nông trường Đồng Giao, một trong những đơn vị làm tốt công tác cải tiến quản lý của tỉnh vô  cùng phấn khởi và vinh dự được đón Bác Hồ kính yêu về thăm. Người biểu dương thành tích lao động của cán bộ, công nhân và tuổi trẻ nông trường trong những năm qua đồng thời căn dặn cán bộ, công nhân, đảng viên, đoàn viên phải luôn tăng cường đoàn kết, ra sức đẩy mạnh sản xuất và học tập, quyết tâm xây dựng nông trường lớn mạnh về mọi mặt.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Tỉnh Đoàn Ninh Bình tiếp tục duy trì và phát triển các phong trào thi đua lao động sản xuất, học tập, rèn luyện để cống hiến được nhiều cho Tổ quốc.

Nhiều nơi trong tỉnh tổ chức Đại hội thanh niên tòng quân và lấy ngày đó làm ngày mở đầu cho phong trào “Đoàn kết quân dân bảo vệ Tổ quốc”, “Xây dựng dân quân tự vệ"... Hầu hết các địa phương đều có số thanh niên đăng ký tòng quân vượt mức chỉ tiêu, có nơi tăng 2,5 đến 3 lần.

Với những đóng góp tích cực của đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong cuộc vận động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tổ chức Đoàn và tuổi trẻ toàn tỉnh được Uỷ ban hành chính tỉnh tặng Cờ danh dự “Tuổi trẻ đi đầu xây dựng củng cố quốc phòng”.

Kết quả ba năm cải tạo Xã hội chủ nghĩa, phát tiển kinh tế, văn hoá, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội ở Ninh Bình được xây dựng, nhân dân và tuổi trẻ toàn tỉnh ngày càng thêm tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, ra sức xây dựng chế độ mới Xã hội chủ nghĩa.

II. Hăng hái tham gia phong trào “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” (1961 - 1965).            

Phát huy những thắng lợi to lớn đạt được trong những năm khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá ở miền Bắc và phong trào yêu nước ở miền Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao Động Việt Nam họp tại Hà Nội vào tháng 9 năm 1960. Đây là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân và tuổi trẻ cả nước. Đại hội đề ra đường lối chung trong thời kỳ quá độ đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, quyết định phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) và hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà.

Tháng 2 năm 1961, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (Vòng 2) diễn ra tại thị xã Ninh Bình. Đại hội quyết định những nhiệm vụ trong hai năm 1961 - 1962 ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc làm cơ sở cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Đại hội đề ra những biện pháp lớn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng.

Ngày 21 tháng 1 năm 1961, Đại hội đại biểu Đoàn thanh niên lao động tỉnh Ninh Bình lần thứ IV được tổ chức. Có 200 đại biểu đại diện cho hơn 18.000 đoàn viên trong tỉnh. Đại hội rất vui mừng và vinh dự được đón đồng chí Vũ Thơ, Bí thư Tỉnh uỷ cùng các đồng chí trong Ban thường vụ, các đồng chí lãnh đạo chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Đại hội xúc động được đón tiếp đoàn đại biểu đồng bào và cán bộ Đoàn tỉnh Bạc Liêu kết nghĩa với Ninh Bình. Đồng chí Vũ Quang, Bí thư Trung ương Đoàn về dự và chỉ đạo Đại hội.

Quán triệt tinh thần và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra, dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đoàn (khoá II, trình Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III), Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ IV xác định những công tác lớn của Đoàn: giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, nâng cao giác ngộ Xã hội chủ nghĩa cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên; xây dựng, củng cố, tổ chức Đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đề cao vai trò, vị trí của tổ chức Đoàn trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất...

Đại hội bầu Ban chấp hành Tỉnh đoàn (khoá IV) gồm 25 uỷ viên chính thức và 6 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Hà Như Lâm được bầu làm bí thư Tỉnh Đoàn. Đại hội bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III.

Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn thanh niên lao động Việt Nam lần thứ III họp tại Hà Nội từ ngày 23 đến ngày 25/3/1961, về dự Đại hội có 677 đại biểu. Đại hội xác định: “Đoàn kết thanh niên, tổ chức, giáo dục mọi lực lượng thanh niên trong cả nước tiến lên dưới ngọn cờ của Đảng, phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ lịch sử mà Đảng đề ra... Tất cả mọi hoạt động của Đoàn và thanh niên nước ta đều cần hướng vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà” (1).

Đại hội phát động phong trào “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)” nhằm động viên, tập hợp tuổi trẻ miền Bắc phát huy vai trò xung kích đi đầu thực hiện thắng lợi kế hoạch nhà nước. Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương Đoàn gồm 71 uỷ viên. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu làm Bí thư thứ nhất. Thời gian sau đồng chí Nguyễn Lam được điều động nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Vũ Quang được Ban chấp hành Trung ương Đoàn khoá III bầu làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn. Tại Đại hội, đoàn đại biểu tuổi trẻ Ninh Bình phát biểu tham luận về vấn đề xây dựng tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên và tích cực tham gia các hoạt động của Đại hội, trao đổi kinh nghiệm hoạt động với nhiều đoàn đại biểu các tỉnh bạn.

Quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III và triển khai nghị quyết Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ IV (tháng 1-1961), Hội nghị Ban chấp hành Tỉnh đoàn phát động phong trào “Hăng hái tiến lên hàng đầu, xung phong tình nguyện phấn đấu thực hiện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” (1).

Trong 3 ngày 1-7 đến 3-7-1961 tại nhà hát Kim Mâu (Phát Diệm, Kim Sơn) Thường vụ Tỉnh uỷ đã tổ chức Hội nghị đảng viên trẻ tuổi toàn tỉnh với gần 300 đồng chí về dự. Đồng chí Vũ Thơ, Bí thư Tỉnh uỷ đến dự và chủ trì, nghe các đảng viên trẻ tuổi báo cáo, phát biểu ý kiến và bồi dưỡng cho các đảng viên trẻ tuổi về nhận thức tư tưởng, về tình hình nhiệm vụ trước mắt và về trách nhiệm của đảng viên trẻ. Nhiều đồng chí dự Hội nghị sau này trở thành cán bộ lãnh đạo và quản lý của tỉnh và các huyện, thị xã.

Nhằm nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh niên, trong hai tháng 9 và 10 năm 1961, Tỉnh đoàn tổ chức cuộc chỉnh huấn cho cán bộ, đoàn viên toàn tỉnh. Đây là đợt học tập chính trị rất quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, tư tưởng, bồi dưỡng những hiểu biết cơ bản về đường lối, chính sách của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới cho cán bộ, đoàn viên, làm cơ sở phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong các phong trào hành động cách mạng.

Do được chuẩn bị tốt nên cuộc chỉnh huấn đạt kết quả cao, tạo không khí phấn khởi, tin tưởng, đoàn kết trong tổ chức Đoàn và trong mối quan hệ giữa Đoàn với đông đảo thanh niên. Khẩu hiệu “Tranh thủ cống hiến thật nhiều cho chủ nghĩa xã hội và đấu tranh giành thống nhất nước nhà” ngày càng thấm sâu vào tâm trí của mọi cán bộ, đoàn viên, thanh niên.

Từ sau cuộc chỉnh huấn, phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất được dấy lên rộng khắp. Hàng vạn đoàn viên, thanh niên đăng ký tham gia phong trào và tiến quân trên các mặt trận sản xuất, công tác và học tập. Công tác thuỷ lợi vẫn được coi là “mặt trận nóng bỏng”. Công trình thuỷ lợi đắp đê sông Hoàng Long với sự tham gia của 4.339 đoàn viên, thanh niên. Ngoài các “đội thanh niên xung phong tình nguyện”, các tổ chức Đoàn hình thành nhiều “tổ thanh niên xung kích”.

Các tổ thanh niên xung kích phấn đấu đưa năng suất lao động lên cao từng bước trong quá trình thi đua phá kỷ lục của công trường. Điển hình, tại các công trường thuỷ lợi sông Bến Đang, sông Ghềnh, âu thuyền sông Vân... có 47 tổ xung kích đạt năng suất bình quân từ 7m3 đến 10m3 /người/ ngày. Do có phong trào thi đua giữa các đơn vị mà năng suất được đẩy mạnh tới mức 1.100%, đặc biệt có tổ đạt tới đỉnh cao 1.550% định mức.

Ở các công trường thuỷ lợi khác có sáng kiến tổ chức các hình thức thi đua “Đêm trả thù cho anh Lê Quang Vịnh”, “Giờ lao động cộng sản”, “Khối đất vì  miền Nam ruột thịt”... Các tổ thanh niên xung kích thi đua mang những tên gọi đầy ý nghĩa khi đạt được thành tích cao như: “Tổ thanh niên xung kích Lý Tự Trọng”, “Tổ thanh niên xung kích Ga ga rin”, “Tổ tên lửa vũ trụ”...

Trong hai năm 1962 - 1963, phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển lên đỉnh cao. Trong phong trào làm thuỷ lợi tuổi trẻ toàn tỉnh mỗi năm tham gia từ 750.000 đến 850.000 ngày công, tổng khối lượng đào đắp từ 2.300.000m3 đến 3.500.000m3 đất, đá. Qua phong trào và các hình thức thi đua, hơn 1.000 tập thể và cá nhân được biểu dương, khen thưởng; gần 300 đoàn viên, thanh niên đạt danh hiệu kiện tướng thuỷ lợi.

Từ năm 1962 đến năm 1964, phong trào làm phân bón của các cơ sở Đoàn ngày càng đạt hiệu quả. Có 215 chi đoàn  xây dựng được kế hoạch làm phân bón theo chỉ tiêu của Tỉnh Đoàn đề ra, gần 900 cán bộ Đoàn cơ sở được dự các lớp phổ biến kỹ thuật làm phân bón và chăn nuôi. Nhiều huyện đoàn tổ chức được các hội nghị chuyên đề, tổ chức đi tham quan học tập kinh nghiệm các điển hình thanh niên tiên tiến trong tỉnh và tỉnh bạn.

Nhằm góp phần phát huy và hỗ trợ phong trào thi đua “xung phong tình nguyện”, Tỉnh Đoàn Ninh Bình phát động những đợt thi đua ngắn ngày “Tổng công kích gặt chiêm chống Mỹ - Diệm”, “Làm phân vùi Mỹ - Diệm”... đạt kết quả. Tỉnh Đoàn lấy hai điển hình là xã đoàn Yên Phong (Yên Mô) và xã đoàn Yên Quang (Nho Quan) để cổ vũ phong trào chung. Toàn tỉnh có 64 xã đoàn đăng ký thi đua với xã đoàn Yên Phong. Trong hai năm, toàn tỉnh làm được 210.354 tấn phân các loại và phát triển 375 mẫu bèo hoa dâu giống trên tất cả các xã, từ đó nhân rộng việc cung cấp bèo làm phân bón cho trên 10.000 mẫu lúa trong vụ Đông Xuân 1962 - 1963.

Ngoài hai mũi nhọn công tác làm thuỷ lợi và phân bón, một trong những nội dung quan trọng của phong trào xung phong tình nguyện đối với thanh niên nông thôn là tham gia tích cực vào cuộc vận động cải tiến công cụ sản xuất. Đây là mũi nhọn công tác của thanh niên tiến quân vào khoa học - kỹ thuật, nhằm tạo điều kiện đưa năng suất lao động lên cao. Từ năm 1962 đến 1964, hàng năm Tỉnh đoàn và các huyện đoàn phối hợp với ty và phòng nông nghiệp tổ chức các hội nghị chuyên đề về cải tiến công cụ, mở lớp hướng dẫn sử dụng máy cày và các công cụ cải tiến. Trong 3 năm, có trên 800 lượt cán bộ, đoàn viên, thanh niên được huyện đoàn và Tỉnh đoàn tổ chức đi tham quan những đơn vị, địa phương có phong trào cải tiến công cụ mạnh. Kết quả, việc dùng cày 51, cày 58 từng bước trở thành phổ biến trong tỉnh, phong trào áp dụng kỹ thuật bừa trâu đôi được dấy lên từ các xã Yên Lạc (Yên Khánh), Gia Phú, Gia Phong (Gia Viễn), Yên Mạc (Yên Mô)... lan rộng ra nhiều nơi trong tỉnh.

Tuy nhiên, phong trào cải tiến công cụ phát triển chưa đều khắp và thường xuyên. Việc phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm của đoàn viên, thanh niên có nơi, có lúc chưa mạnh; nơi có khí thế cao, nơi còn chậm...

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ về động viên, tổ chức đồng bào và tuổi trẻ đi khai hoang xây dựng quê hương mới ở tỉnh Tuyên Quang, Tỉnh đoàn hướng dẫn các huyện, thị đoàn tuyên truyền, phổ biến quán triệt chủ trương của tỉnh trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên. Do làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, đoàn viên, thanh niên hiểu được ý nghĩa của việc đi khai hoang xây dựng kinh tế mới nên từ năm 1961, số đoàn viên, thanh niên đăng ký xung phong tình nguyện đi khai hoang trong tỉnh và lên Tuyên Quang ngày càng tăng.

Trong những năm 1962 - 1963, phong trào đi khai hoang xây dựng kinh tế mới trở nên sôi động. Nổi lên các điển hình, như cơ sở Đoàn các xã Ninh Thắng, Trường Yên (Gia Khánh), Gia Lâm, Xích Thổ, Gia Sinh (Gia Viễn)... có hàng trăm thanh niên đi xa tới 15 km đến 29km vỡ hoang diện tích canh tác cho hợp tác xã. Hơn 1.000 đoàn viên, thanh niên huyện Yên Mô tình nguyện đi vỡ hoang ở Ghềnh, chỉ một đợt được 42 mẫu. Năm 1962 phong trào khai hoang phát triển mạnh, đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh vỡ hoang được 919 mẫu đất.

Sau cơn bão C năm 1962, Tỉnh uỷ phát động chiến dịch Hòn Khoai - Quang Trung và giao nhiệm vụ cho Đoàn thanh niên tổ chức lực lượng nòng cốt thực hiện phong trào trồng khoai và hoa mầu ngoài kế hoạch để kịp thời tạo thêm nguồn lương thực. Đây là một chiến dịch lớn rất rầm rộ, thể hiện tình cảm kết nghĩa Ninh Bình - Bạc Liêu (Hòn Khoai là di tích cách mạng của Bạc Liêu, Quang Trung là của Ninh Bình). Với khẩu hiệu “Trời làm mất bắt đất phải đền”, tuổi trẻ toàn tỉnh trồng được hơn 16.000 mẫu khoai, ngô và rau các loại, được Uỷ ban hành chính tỉnh biểu dương.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Tỉnh đoàn chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, thanh niên nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí ngành chăn nuôi. Hàng năm, vào những tháng cuối năm, Tỉnh đoàn chỉ đạo cơ sở Đoàn tổ chức “Tết cho trâu bò”. Đoàn viên, thanh thiếu niên chuẩn bị rơm, cỏ đầy đủ trong 3 ngày tết, tu sửa chuồng trại, may áo bằng bao tải để chống rét, chống muỗi cho trâu bò

Năm 1963, Ban chấp hành Tỉnh Đoàn họp và quyết định phát động cuộc vận động: “Toàn Đoàn đẩy mạnh công tác chăn nuôi”. Sau lễ phát động thời gian ngắn, hơn 312 tổ bảo vệ, chăm sóc trâu, bò béo, khoẻ được hình thành. Huyện Gia Khánh có 57 tổ thanh niên đỡ đầu chăm sóc trâu, bò, hàng trăm đội viên, thiếu niên được các anh, chị phụ trách hướng dẫn tham gia và hoạt động rất tích cực. Kết quả, vụ Đông Xuân năm 1962 - 1963, số trâu, bò bị đói rét, ốm gầy và chết giảm hẳn so với các năm trước, xã viên các hợp tác xã rất phấn khởi.

Ngoài việc chăm sóc trâu bò đảm bảo sức kéo, Tỉnh đoàn phát động “Toàn Đoàn đẩy mạnh chăn nuôi ” của hợp tác xã và hộ xã viên. Tỉnh đoàn phối hợp với
Ty nông nghiệp mở hội nghị chuyên đề về chăn nuôi tại xã Khánh Cư (Yên Khánh), có 154 cán bộ Đoàn tham dự.. Phong trào nhanh chóng được các cấp triển khai. Đoàn viên, thanh niên Kim Sơn trồng được 3.000 khóm khoai nước trong đợt thi đua “Cờ hồng Tháng Tám” làm thức ăn cho lợn. Trong đợt thi đua “Chiến thắng thiên nhiên”, đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh trồng được hơn 1.000 mẫu khoai, ngô, sắn... trong đó có 68 mẫu khoai nước, 213 mẫu 6 sào rau các loại, 5.637 hốc bí, bầu và 16.913 cây chuối, đu đủ. Đồng thời, các tổ chức Đoàn vận động đoàn viên, thanh niên nuôi được 10.658 con gà, vịt và 261 con lợn.

Ở nhiều nơi, như các xã Gia Hưng, Gia Thắng (Gia Viễn), Ninh Thắng, Ninh Khánh, Ninh An (Gia Khánh), Yên Phú (Yên Mô)... đoàn viên, thanh niên lập thành từng nhóm đi xa 15km - 20km tìm đất phá hoang trồng hoa màu phục vụ chăn nuôi.

Trong phong trào trồng trọt, chăn nuôi hai năm 1962 - 1963, tuổi trẻ toàn tỉnh trồng được 4.140.583 khóm khoai nước, hơn 3.464 mẫu khoai, ngô, sắn, dong, riềng, 600 mẫu cỏ, lập gần 500 tổ bảo vệ gia súc, trong đó có đông đảo đội viên, thiếu niên tham gia và vận động nuôi thêm được 60.409 con gà, vịt và 3.602 con lợn... Ninh Bình là một trong những tỉnh dẫn đầu về phát triển chăn nuôi toàn miền Bắc.

Tỉnh đoàn đặc biệt quan tâm công tác Đoàn trong trường học, ra văn bản hướng dẫn các huyện, thị Đoàn và Đoàn trực thuộc tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong các năm học trước, như xây dựng động cơ thái độ học tập đúng đắn, noi gương Trường Bắc Lý thực hiện “Dạy tốt, học tốt”. Qua đó, xây dựng, củng cố cơ sở Đoàn trong nhà trường về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đặc biệt, đẩy mạnh các phong trào: “Học tập và làm theo 5 điều Bác Hồ dạy” và “Sống, làm việc, theo gương những người cộng sản” do Trung ương phát động.

Trong ba năm 1962 - 1964, công tác thiếu niên, nhi đồng và công tác Đoàn trong các trường được đẩy mạnh. Hàng năm, thiếu nhi Ninh Bình đều được tổ chức đi tham quan, đi nghỉ, dự trại hè... Các huyện tổ chức các cuộc tham quan cho 1.474 em. Huyện đoàn Kim Sơn có gần 350 em được tham dự trại hè Bích Động. Các huyện đoàn Yên Mô, Gia Viễn tổ chức cho các em đi tham quan nhà máy dệt Nam Định. 3 năm (từ 1962 - 1964), toàn tỉnh  có 31.594 thiếu nhi được đi dự hội trại, tham quan và dự các cuộc liên hoan, vui chơi bổ ích.

Tỉnh đoàn chú trọng chỉ đạo công tác hoạt động Đội, phát động phong trào “3 cân lương thực”, “2 cân thực phẩm” “kế hoạch nhỏ”. Kết quả, 3 huyện Nho Quan, Gia Viễn, Kim Sơn, các em thiếu nhi trồng được 18.665 cây ăn quả, 14.031 cây lấy gỗ; nuôi 8.917 con gà, làm 28 mẫu 8 sào ngô, khoai, 8 mẫu 5 sào rau, làm được gần 4.300 tấn phân các loại, trồng 39.332 cây trẩu...

Phong trào làm theo lời Bác Hồ dạy, như nhặt được của rơi đem trả lại cho người bị mất hoặc giúp người gặp hoạn nạn ngày càng được các em hưởng ứng thực hiện. Điển hình là tấm gương em Đức ở Gia Hưng (Gia Viễn), em Uy ở Khánh Cường (Yên Khánh), em Chất, em Bá ở Gia Lập (Gia Viễn) dũng cảm cứu bạn khỏi bị chết đuối; em Long ở Khánh Thiện (Yên Khánh), em Hội ở Đồng Phong (Nho Quan)... nhặt được tiền và vàng giao lại công an trả lại người bị mất.

Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao được Tỉnh đoàn và các cơ quan chức năng phối hợp tổ chức thành phong trào rộng khắp toàn tỉnh, hình thành được các đội bóng thiếu niên, nhi đồng, 109 câu lạc bộ, 379 tủ sách, 118 đội kịch, 169 đội đồng ca, 36 đội thể dục mềm dẻo... Các xã Hồng Thái, Gia Phong, Đồng Phong, Khánh Thiện, Công Trứ, Hùng Tiến có phong trào văn nghệ, đọc sách, hoạt động thể dục thể thao mạnh. Trong hai năm 1963 - 1964 có 6.200 em đạt tiêu chuẩn rèn luyện cấp I và có 1 em giành được huy chương bạc trong Đại hội bơi lội miền Bắc.

Từ năm 1962, công tác Đoàn trong trường học phát triển mạnh. Phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” phát triển sâu rộng. Năm học 1961 - 1962, toàn tỉnh có 61 trường phổ thông cấp II, cấp III và các trường chuyên nghiệp, tổng số 18.455 học sinh trong đó có 3.391 đoàn viên, 2.542 thanh niên, 11.009 thiếu niên và 200 giáo viên là đoàn viên được biểu dương. Tỉnh Đoàn phối hợp với ty Giáo dục tổ chức hai hội nghị chuyên đề về hoạt động của Đoàn trong trường học và học sinh tham gia lao động sản xuất góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thu hút đông đảo cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên tham gia.

Đại hội đại biểu Đoàn thanh niên lao động tỉnh Ninh Bình lần thứ V họp từ ngày 16-10 đến ngày 19-10-1963. Đại hội đánh giá: Từ sau Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III và Đại hội đại biểu Đoàn thanh niên lao động tỉnh lần thứ  IV (tháng 1 - 1961), công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu niên tỉnh Ninh Bình có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, đem lại hiệu quả thiết thực về mọi mặt. Đại hội bầu Ban chấp hành Tỉnh Đoàn gồm 19 uỷ viên. Đồng chí Lê Đăng Nguyên được bầu làm bí thư Tỉnh Đoàn. Các đồng chí Nguyễn Năng An, Trần Cao Thắng được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh Đoàn.

 Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ V, các cấp bộ Đoàn vận động đoàn viên, thanh niên xung kích đi đầu trong chống hạn, chống úng, làm thuỷ lợi, cải tiến nông cụ, làm phân bón... góp phần tích cực đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp đồng thời xây dựng hợp tác xã, đưa công cuộc hợp tác hoá trong toàn tỉnh đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.

Đoàn viên, thanh niên trong các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hăng hái tiến quân vào khoa học kỹ thuật, tích cực tham gia công tác cải tiến quản lý. Các phong trào thi đua tiết kiệm, hợp lý hoá sản xuất ngày càng phát triển sâu rộng.

Đối với công tác thiếu nhi và học sinh, Tỉnh đoàn kiên trì chỉ đạo phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” theo gương Trường Bắc Lý và đẩy mạnh công tác xây dựng Đội và phong trào thiếu nhi làm theo 5 điều Bác Hồ dạy. Tổ chức Đoàn thường xuyên bám sát nhiệm vụ chính trị, giáo dục lòng yêu nước, ý thức tham gia đấu tranh giành thống nhất nước nhà, nâng cao cảnh giác cách mạng, ra sức tham gia xây dựng dân quân tự vệ, giác ngộ đoàn viên, thanh niên về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa.

Từ tháng 10 năm 1963 đến hết năm 1964, Tỉnh Đoàn Ninh Bình tổ chức nhiều đợt học tập cho cán bộ, đoàn viên về nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ V. Đoàn tổ chức những đoàn viên ưu tú để giới thiệu Đảng xem xét kết nạp. Chỉ tính riêng khu vực nông thôn, Bốn năm từ (1961 - 1963), Đảng bộ kết nạp được 3.458 đảng viên mới, trong đó có 62,6% là đoàn viên thanh niên. Nhiều đồng chí cán bộ Đoàn ở các cấp được bầu vào cấp uỷ, tăng cường lớp cán bộ trẻ cho Đảng.

Đúng như Đảng ta đánh giá: "Mười năm qua miền Bắc đã tiến những bước chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới" (1). Thất bại thảm hại ở miền Nam, ngày 5-8-1964 đế quốc Mỹ liều lĩnh cho không quân đánh phá một số điểm trên miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc nước ta.

Trước tình hình đó, tuổi trẻ Ninh Bình theo lời kêu gọi của Bác Hồ kính yêu, của Đảng và Nhà nước nêu cao quyết tâm chống Mỹ cứu nước, sẵn sàng thực hiện mọi nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

 

 

--------------------------------------------------------------------------------

(1)  Lịch sử Đảng bộ Ninh Bình, trang 205, 206.

 (1)  Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình , tập I (1930 - 1975), trang 208.

(1)  Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam, Nhà xuất bản thanh niên, năm 2004, tr 481.

(1) Hồ sơ lưu trữ tại TW Đoàn, mã số 359-VP TW Đoàn.

(1)  Báo cáo chính trị của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị chính trị đặc biệt tháng
3 - 1964.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Các bài viết mới:

 
 

   TAI LIEU NQ 1gfg

   gop-y-van-kien-DH13

     TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM NINH BÌNH

 21272270 1486183624799881 7776314727266102898 n

CUỘC THI "TỰ HÀO VIỆT NAM" LẦN THỨ III,

NĂM HỌC 2019 - 2020

  8.-banner-website-1200px

 thieu-nhi-viet-nam-thi-viet-ve-tranh-ve-bac-ho

 

THANH NIÊN KHỞI NGHIỆP

images

TUỔI TRẺ NINH BÌNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Bac Ho

QUYẾT TÂM GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

Bien dao

DANH LAM THẮNG CẢNH NINH BÌNH

23.1 trang an cong nhan

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Nong thon moi





 

 

 

LỊCH SỬ ĐOÀN THANH NIÊN

Liên kết website

Hiện có 104 khách Trực tuyến

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay:672
mod_vvisit_counterHôm qua:862

Địa chỉ IP của bạn là: 107.21.85.250
Bạn đang xem: Home Tỉnh đoàn Ninh Bình Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Chương III: Thanh niên Ninh Bình tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế - văn hoá, xây dựng Chủ nghĩa xã hội (1954 - 1965)