Tin nổi bật

Ninh Bình Lịch sử và Truyền thống

Email In PDF.

 

Tỉnh Ninh Bình có cả vùng đồi núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển, tạo thành một bức tranh phong cảnh non nước hữu tình được tạo nên bởi những núi đá nhấp nhô ẩn hiện mà người dân nơi đây ví như “Hạ Long cạn”. Ninh Bình là một vùng đất có bề dày về lịch sử, văn hoá, có nhiều di tích, danh thắng nổi tiếng với 78 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia. Cố Đô Hoa Lư - Kinh đô của ba vương triều Đinh, Tiền Lê, Lý.  Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động (Bích Động  được mệnh danh là Nam Thiên đệ nhị Động); Rừng quốc gia Cúc Phương; hồ Đồng Chương, hang Vân Trình, suối nước nóng Kênh Gà, khu du lịch sinh thái Vân Long. Những địa danh trên được nhiều người biết đến, nhưng số hang động kỳ thú còn ẩn sâu trong các núi đá thì không phải ai cũng được chiêm ngưỡng. Chỉ riêng khu vực 2 huyện Hoa Lư, Gia Viễn có trên 50 hang động nổi tiếng, như động Địch Lộng (được mệnh danh là Nam thiên đệ tam động), Hang Dơi, động Thổ Tích, động Thiên Tôn, động Xuyên Thuỷ... Tỉnh đang xây dựng khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính, khu du lịch hang động, sinh thái Tràng An và đề nghị công nhận là di sản thiên nhiên thế giới với nhiều hang động dài hàng nghìn mét, có thể chèo thuyền trên sông xuyên qua lòng núi. Khu rừng Cúc Phương có động Con Moong, động Người Xưa, động Phò Mã... Nhà thờ đá Phát Diệm, phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu. Ngoài những ưu thế nói trên, Ninh Bình còn có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội toàn diện. Địa hình tỉnh Ninh Bình chia thành ba vùng sinh thái. Vùng rừng núi, bán sơn địa gồm huyện Nho Quan, Thị xã Tam Điệp và một phần huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư, huyện Yên Mô. Nơi đây có nhiều dãy đồi và núi đá trùng điệp chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, kéo dài từ phía Tây (giáp tỉnh Hoà Bình, tỉnh Thanh Hoá) đến biển phía Đông Nam tạo thành vùng đất hiểm yếu đối với công cuộc dựng nước và giữ nước. Xen kẽ đồi núi là những thung lũng rộng, đất đỏ bazan, rất thuận tiện cho việc khai thác, trồng các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò...). Men theo các triền đồi là các khu đồng đất bán sơn địa. Đặc biệt nơi đây có rừng nguyên sinh Cúc Phương rộng 25.000 ha, trong đó có nhiều thực vật và động vật quý hiếm. Đây cũng là vùng đất cổ, có nhiều tài nguyên, khoáng sản, đặc biệt là đá vôi và đất sét. Vùng đồi núi có người tiền sử sinh sống cách đây hàng nghìn năm(1) và đang được khai thác thành vùng  kinh tế đồi rừng đa dạng, đồng thời xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung.

Phía Đông Nam tỉnh là vùng ven biển bao gồm một số xã thuộc các huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô. Hàng năm, phù sa của hệ thống sông ở Bắc bộ bồi đắp lấn ra biển từ 80m đến 100m, tạo nên vùng đất mới rất màu mỡ, thuận tiện cho việc trồng cói, nuôi trồng thuỷ, hải sản.

Vùng đồng bằng gồm các huyện Yên Khánh, phần lớn huyện Kim Sơn, một phần các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô. Trong đó, nhiều xã thuộc hai huyện Gia Viễn, Hoa Lư và một phần của hai huyện Nho Quan, Yên Mô là đồng chiêm trũng, chua phèn nặng, có nhiều dãy núi đá vôi mọc xen kẽ. Trước kia luôn bị ngập úng, hạn hán, chỉ cấy được một vụ lúa. Từ năm 1960, nhân dân Ninh Bình hợp sức trị thuỷ sông Hoàng Long, đắp đê, đắp đập ngăn nước lũ phục vụ tưới tiêu nước cho đồng ruộng, biến vùng đất này thành hai vụ lúa ăn chắc.

Toàn tỉnh có 65.000 ha đất nông nghiệp, trong đó 20.000 ha đất trồng các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, như chè, cói, dứa, mía... và trên 8.000 ha nuôi tôm xuất khẩu; 13.000 ha đất lâm nghiệp, 10.400 ha rừng tự nhiên, 20.500 ha núi đá, 7.500 ha đồi trọc. Rừng, núi Ninh Bình chiếm 22,5% diện tích tự nhiên, có nhiều lâm sản quý, đặc biệt là rừng nguyên sinh Cúc Phương.
Địa hình Ninh Bình trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam khoảng 65km, nhưng chiều ngang lại hẹp khoảng 20km. Là tỉnh tiếp giáp giữa rừng và biển, giữa Bắc Bộ và Trung Bộ nên khí hậu của Ninh Bình vừa có đặc điểm chung là nhiệt đới gió mùa, vừa có đặc điểm riêng tạo ra những tiểu vùng khí hậu có ảnh hưởng tới việc phát triển kinh tế.
Ninh Bình có hệ thống giao thông đường bộ thuận lợi, tổng chiều dài 2.530 km nối liền các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh và các tỉnh, các vùng miền trong cả nước. Đó là đường sắt, đường quốc lộ 1A, đường quốc lộ số 10 chạy qua các tỉnh duyên hải Bắc Bộ; các đường 59, đường 12A, đường 12B nối với miền Tây Bắc của Tổ quốc; các đường tỉnh, đường huyện nối liền các huyện, các xã. Ngày nay, 100% số huyện, xã đều có đường ô tô đến tận trung tâm xã. Hệ thống đường giao thông của tỉnh đang được nâng cấp, xây dựng thành đường nhựa, đường bê tông, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

     Cùng với hệ thống đường sắt, đường bộ, Ninh Bình có nhiều sông ngòi, tạo thành hệ thống giao thông thuỷ tổng chiều dài trên 300 km. Các sông Hoàng Long, sông Đáy, sông Vân, sông Chanh, Sông Vạc... là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho các vùng dân cư và sản xuất nông nghiệp. Hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận lợi giao lưu văn hoá và phát triển kinh tế với các tỉnh, các vùng trong cả nước
Qua nhiều biến thiên của lịch sử (1), hiện nay Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính gồm 6 huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư (2), Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn và thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp. Toàn tỉnh có 147 xã, phường, thị trấn (125 xã, 15 phường, 7 thị trấn). Dân số Ninh Bình trên 940.000 người, hầu hết là người dân tộc Việt (Kinh), có khoảng 2 vạn người dân tộc Mường phần lớn sống tập trung ở một số xã miền núi huyện Nho Quan và thị xã Tam Điệp.

Đại bộ phận nhân dân Ninh Bình theo tín ngưỡng dân gian (thờ cúng tổ tiên, cha mẹ), một bộ phận theo đạo công giáo, đạo phật... Đồng bào công giáo chiếm khoảng 16% số dân trong tỉnh, sống hoà đồng, đan xen với đồng bào đi lương trong cộng đồng làng xã, nhiều nhất là ở Kim Sơn chiếm 43,4% dân số toàn huyện.

     Nhân dân Ninh Bình sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài trồng lúa, còn trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lấy dầu, lấy gỗ, cây công nghiệp. Nhiều nghề thủ công, mỹ nghệ nổi tiếng, như dệt chiếu cói ở Kim Sơn, Yên Khánh; khai thác đá, chạm trổ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân, thêu ren ở Ninh Hải (Hoa Lư); làm đồ mộc ở Ninh Phong (thành phố Ninh Bình); làm gạch ngói ở Khương Thượng (Yên Khánh), nghề gốm ở Gia Thuỷ (Nho Quan), trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, dệt lụa ở nhiều nơi trong các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô.
Ở Ninh Bình có nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng, như Đền thờ Vua Đinh, Vua Lê, Đền Thái Vi, Nhà thờ đá Phát Diệm v.v... Đời sống văn hoá của nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình rất phong phú, đa dạng. Hát chèo, hát ca trù, các điệu múa dân gian có từ thời Đinh - tiền Lê. Nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình có truyền thống hiếu học, nhiều danh nhân khoa bảng nổi tiếng, như  Trương Hán Siêu, Ninh Tốn, Vũ Phạm Khải, Phạm Thận Duật v.v... Vũ Duy Thanh (Trạng Bồng) là người dâng lên triều đình nhà Nguyễn “Bảy phương sách cứu nước”, “Tám điều cải cách giáo dục nước nhà”, người đề xuất phương án khai thác than đá ở Hòn Gai, ngày đêm nghiên cứu, sáng chế tàu chiến chạy bằng hơi nước v.v... là những điều rất mới mẻ đối với nước ta lúc đó.

Nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng dũng cảm, kiên cường, bất khuất, truyền thống đoàn kết, nhân ái v.v... Thế kỷ thứ X, Đinh Bộ Lĩnh, người làng Đại Hữu (Gia Viễn) có tài thao lược, dựa vào thế rừng núi Ninh Bình, tập hợp được đông đảo lực lượng thanh niên và nhân dân nổi lên dẹp loạn 12 sứ quân, dựng nên Nhà nước phong kiến tập quyền Trung ương đầu tiên ở nước ta. Ông lên ngôi Hoàng đế năm 968, đóng đô ở Trường Yên (Hoa Lư) và đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Cũng tại Hoa Lư, thập đạo tướng quân Lê Hoàn lãnh đạo nhân dân chống giặc Tống, quân Chiêm xâm lược, giành thắng lợi, bảo vệ nền độc lập của đất nước.
Thế kỷ thứ XIII, nhà Trần tạm thời lui về Ninh Bình lập căn cứ địa Trường Yên ở vùng núi huyện Hoa Lư, để rồi từ đây phản công tiến đánh bại quân Mông - Nguyên xâm lược, bảo vệ nền độc lập toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Thế kỷ thứ XV, quân Minh xâm lược nước ta, Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng dựa vào thế đất Yên Mô xây dựng căn cứ kháng chiến chống quân xâm lược.
Năm 1789, vua Quang Trung - Nguyễn Huệ, trên đường tiến quân thần tốc ra Bắc đánh quân Thanh xâm lược, tập kết quân và xây dựng phòng tuyến chiến đấu ở Tam Điệp - Biện Sơn, nhân dân Ninh Bình hăng hái ủng hộ cung cấp lương thực, thực phẩm, khí giới; thanh niên trai tráng nô nức tham gia tập luyện bổ sung quân đội. Từ vùng đất này, Quang Trung mở cuộc tiến công đánh thắng 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long, giành lại nền độc lập của nước ta.

Năm 1873, quân Pháp đánh chiếm Ninh Bình (lần thứ nhất) bị nhân dân ta đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải lui quân. 10 năm sau, năm 1883,  quân Pháp đánh chiếm Ninh Bình (lần thứ hai). Nhân dân Ninh Bình tích cực tham gia phong trào chống Pháp do Phạm Văn Nghị, Bùi Cẩm, Nguyễn Bích, Nguyễn Đường, Thiên Hộ Giản tổ chức chỉ huy. Năm 1886, trận phục kích đánh đồn Nho Quan giành thắng lợi, diệt nhiều lính Pháp, trong đó có trung uý đồn trưởng Phôgiê.

      Sau khi chiếm được Ninh Bình, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, nô dịch nhân dân ta về chính trị, đầu độc về văn hoá, tư tưởng, kìm hãm không cho kinh tế phát triển. Chúng dùng bọn quan lại và hệ thống chính quyền phong kiến địa phương làm tay sai để khai thác, vơ vét của cải, đưa bọn tư bản Pháp đến cướp đất lập đồn điền. Trong hai năm (1895 - 1896), chúng chiếm 5.176 ha đất vùng bán sơn địa, lập ra 13 đồn điền. Chúng cho bọn quan lại phong kiến tay sai, địa chủ người Việt chiếm đất của dân. Tính đến năm 1937, bọn tư bản Pháp và bọn quan lại chiếm đoạt 14.841 ha đất, bằng 22,8% tổng số diện tích canh tác toàn tỉnh. Ngoài ra, chúng còn mộ phu, bắt thanh niên đi làm công khai thác than đá ở Bãi Sải (huyện Yên Mô nay thuộc thị xã Tam Điệp), đầm Đùn (Thạch Bình, Nho Quan), khai thác đá ở Hệ Dưỡng (Gia Khánh), mở xưởng dệt chiếu cói ở Phát Diệm (Kim Sơn).
     Cùng với việc chiếm đất, khai thác tài nguyên, thực dân Pháp đặt ra nhiều sưu thuế nặng nề, dã man, đẩy thanh niên và nhân dân tới cảnh bần cùng, buộc phải đi làm thuê cho chúng. Trong thời gian bị đô hộ, Ninh Bình có hàng vạn người (cả trẻ em) phải đi làm phu trong các đồn điền, hầm mỏ, làm thợ khai thác, dệt chiếu cói... Đồng thời với việc khai thác, bóc lột, chúng không cho phát triển văn hoá, giáo dục và đưa văn hoá độc hại, đồi truỵ, nhảm nhí vào đầu độc, ru ngủ nhân dân, đặc biệt là lớp trẻ. Chúng dùng rượu cồn, mở các công ty rượu để đầu độc và bóc lột nhân dân. Tệ nạn bói toán, cờ bạc, đồng bóng, mê tín dị đoan ngày càng phát triển tràn lan. Trường học, nhà thương mở rất hạn chế chỉ đủ để phục vụ các tầng lớp quan lại, nhà giàu. Hầu hết người dân và thanh niên không được đến trường. Tuyệt đại bộ phận nhân dân không biết chữ. Hàng năm, bệnh dịch diễn ra liên tiếp, cướp đi hàng vạn người, đa số là trẻ em. Người dân Ninh Bình sống dưới chế độ thực dân, phong kiến luôn bị hành hạ, đánh đập, bị bọn quan lại địa phương ức hiếp, đặc biệt là trong các vụ sưu thuế. Ruộng đất bị chiếm đoạt, đê đập không được bồi đắp, nạn lụt lội, hạn hán diễn ra liên tiếp. Hàng năm có hàng ngàn người bị chết đói. Đặc biệt nạn đói tháng 3 năm Ất Dậu (1945), Ninh Bình có hơn một vạn người bị chết đói, hàng trăm gia đình bị chết đói cả nhà. Trước sự thống trị hà khắc của chế độ thực dân, phong kiến, nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình liên tiếp nổi lên đấu tranh chống trả quyết liệt. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tổ chức Đảng ở địa phương được thành lập, lãnh đạo quần chúng đứng lên, cùng cả nước đấu tranh đánh đuổi thực dân, đánh đổ chế độ phong kiến, giành lại độc lập tự do cho dân tộc.

 


Tin mới hơn:

 

Các bài viết mới:

 
 

   TAI LIEU NQ 1gfg

   gop-y-van-kien-DH13

     TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM NINH BÌNH

 21272270 1486183624799881 7776314727266102898 n

CUỘC THI "TỰ HÀO VIỆT NAM" LẦN THỨ III,

NĂM HỌC 2019 - 2020

  8.-banner-website-1200px

 thieu-nhi-viet-nam-thi-viet-ve-tranh-ve-bac-ho

 

THANH NIÊN KHỞI NGHIỆP

images

TUỔI TRẺ NINH BÌNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Bac Ho

QUYẾT TÂM GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

Bien dao

DANH LAM THẮNG CẢNH NINH BÌNH

23.1 trang an cong nhan

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Nong thon moi





 

 

 

LỊCH SỬ ĐOÀN THANH NIÊN

Liên kết website

Hiện có 33 khách Trực tuyến

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay:718
mod_vvisit_counterHôm qua:862

Địa chỉ IP của bạn là: 107.21.85.250
Bạn đang xem: Home Tỉnh đoàn Ninh Bình Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Ninh Bình Lịch sử và Truyền thống