Tin nổi bật

Chương II: Thanh niên Ninh Bình tham gia bảo vệ, củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)

Email In PDF.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta - Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Vừa mới ra đời, nhà nước cách mạng non trẻ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, khôn khéo, tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam từng bước vượt qua mọi ghềnh thác, nền độc lập non trẻ của dân tộc không những không bị kẻ thù tiêu diệt mà vẫn đứng vững trong mọi tình thế, mọi hoàn cảnh vô cùng hiểm nghèo.

Để đấu tranh thắng lợi với mọi kẻ thù và vượt qua mọi khó khăn, thử thách do chế độ cũ và tàn dư phong kiến lạc hậu để lại, Đảng chủ trương huy động sức mạnh toàn bộ đất nước và toàn thể dân tộc. Ban thường vụ Trung ương Đảng vạch ra phương hướng và biện pháp nhằm xây dựng chế độ mới và đối phó với mọi thế lực đế quốc và phản động. Theo phương hướng đó, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và đề ra công việc cấp bách cần làm ngay, khái quát thành 3 nhiệm vụ lớn: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.

Tiếp đó, trong bức thư gửi cho bà con nông dân cả nước, Hồ Chủ tịch lại chỉ rõ: "Hiện nay có hai việc quan trọng nhất là cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam. Vì cứu nước, các chiến sỹ đấu tranh ở ngoài mặt trận. Vì kiến quốc nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng".

Sau khi giành được độc lập tự do, vấn đề có tính chất cơ bản được đặt ra cho Đảng ta, tuổi trẻ và nhân dân ta là phải ra sức giữ vững chính quyền cách mạng, từng bước xây dựng và củng cố chính quyền, xây dựng chế độ mới ngày càng vững mạnh, đưa cách mạng vững bước tiến lên.

Do chính sách thống trị và chế độ áp bức, bóc lột tàn bạo của đế quốc Pháp và phong kiến bản xứ trong suốt 80 năm qua, rồi đến phát xít Nhật chiếm đóng, vơ vét của cải của nhân dân ta, lại thêm nạn lụt lội gây thiệt hại mùa màng vô cùng nghiêm trọng, dẫn đến nạn đói khủng khiếp chưa từng có, cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc. Ở Ninh Bình có trên 1 vạn người bị chết đói, hơn 1.000 gia đình bị chết đói hết không còn một người nào. Nông thôn và nông nghiệp
xơ xác, tiêu điều. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp bị đình đốn. Nạn đói tiếp tục hoành hành. Nông dân phải bỏ ruộng đất, nhà cửa đi kiếm ăn tứ xứ. Bộ máy chính quyền vừa mới thành lập, chưa được củng cố. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên tuy rất hăng hái, nhiệt tình cách mạng nhưng rất bỡ ngỡ trước những công việc mới mẻ quản lý điều hành xã hội. Trong khi đó phải đối phó với nhiều vấn đề nan giải, đặc biệt là giữ gìn trật tự an ninh, đoàn kết lương, giáo, tổ chức sản xuất cứu đói, chăm lo nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân...

Cuối năm 1945, 20 vạn quân Tưởng vào miền Bắc nước ta, với danh nghĩa quân Đồng minh để giải giáp quân Nhật, theo sau là bọn phản động “Việt quốc” (Việt Nam quốc dân đảng), “Việt cách” (Việt Nam cách mạng đồng minh đảng) do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần cầm đầu. Chúng tìm cách vu cáo, khiêu khích, chia rẽ lực lượng ta, xúi giục bọn phản động nổi loạn, lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ của nhân dân ta. Ở miền Nam, gần 10 vạn quân Anh vào làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất giúp thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Đó là chưa kể 9 vạn quân Nhật chưa bị tước vũ khí còn chiếm giữ nhiều nơi, hàng vạn tàn quân Pháp còn chiếm giữ một số vị trí trên vùng biên giới phía Bắc. Bọn phản động trong nước lợi dụng cơ hội ngóc đầu dậy chờ thời cơ nhảy ra làm tay sai cho địch.

Sau khi tràn vào các tỉnh miền Bắc, tháng 10 năm 1945, quân Tưởng chiếm đóng thị xã Ninh Bình, Phát Diệm, Nho Quan và một số nơi quan trọng khác. Bọn Việt Nam quốc dân đảng cũng kéo theo về lập trụ sở ở thị xã Ninh Bình, Phát Diệm, tổ chức nhiều hoạt động chống lại cách mạng Việt Nam, hòng thực hiện âm mưu xoá bỏ chính quyền cách mạng.

Bên cạnh những khó khăn lớn đó, Đảng bộ Ninh Bình lại chưa có kinh nghiệm trong việc tổ chức quản lý chính quyền, chỉ đạo hoạt động xã hội. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên quá ít, nhất là 2 huyện Yên Khánh và Kim Sơn, chưa được đào tạo nghiệp vụ, bồi dưỡng công tác quản lý, công tác tổ chức, thực hiện các nhiệm vụ chính quyền các cấp. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời vừa được thành lập, thành phần trong các uỷ ban ở nhiều nơi rất phức tạp. Có nơi, bọn phản động nắm giữ các vị trí chủ chốt, như huyện Kim Sơn và nhiều xã thuộc các huyện Yên Khánh, Yên Mô. Tình hình đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân phải có sự phấn đấu rất mạnh mẽ, tập trung mọi lực lượng và bằng những biện pháp có hiệu quả nhất để khắc phục khó khăn, nhất là chống lại bọn phản động, đế quốc giữ vững chính quyền, đưa cách mạng tiếp tục tiến lên.

Tại đồi Nga Mi (xã Gia Sơn, Gia Viễn), bọn Đại Việt duy dân, tổ chức phản động tay sai của Nhật lợi dụng vùng rừng núi giáp ranh 3 tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Hà Nam tổ chức nhiều hoạt động phá hoại, bị trừng trị kịp thời. Ngày 26 tháng 8 năm 1945, đơn vị giải phóng quân của tỉnh bao vây tiêu diệt, bắt sống 20 tên, thu nhiều vũ khí và nhiều tài liệu tuyên truyền phản động của chúng.

Đến cuối năm 1945, phần lớn các tổ chức phản động bị triệt phá hoặc bị đấu tranh buộc phải giải tán. Các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, nghiện hút được xoá bỏ. Nhiều người mắc tệ nạn xã hội được cứu chữa, hoà nhập cuộc sống cộng đồng.

Ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, chỉ rõ tính chất của cách mạng Đông Dương lúc này là cách mạng giải phóng dân tộc: "Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong, kẻ thù của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng" (1).

Quán triệt chỉ thị của Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ Ninh Bình xác định nhiệm vụ cấp bách của địa phương lúc này là ra sức giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng xã hội mới, cuộc sống mới cho nhân dân. Trước mắt lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, chống đói, cải thiện đời sống, kêu gọi nhân dân trong tỉnh học chữ quốc ngữ, tập trung lực lượng trấn áp bọn phản cách mạng, phản động, có đối sách đúng đắn, mềm dẻo với quân Tưởng, hạn chế đến mức cao nhất sự phá hoại của chúng.

Để lãnh đạo nhân dân tham gia các phong trào cách mạng, Đảng bộ tập trung lãnh đạo cơ sở, củng cố chính quyền cách mạng các cấp, nhất là ở các xã, tạo điều kiện quan trọng để thực hiện những nhiệm vụ do Đảng đề ra. Tỉnh uỷ cử cán bộ, đảng viên, cán bộ Việt Minh về cơ sở, cùng cán bộ xã lãnh đạo nhân dân, giải tán chính quyền của chế độ cũ, thành lập chính quyền cách mạng. Đến cuối tháng 8 năm 1945, hầu hết các xã trong tỉnh, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời được thành lập và bắt tay ngay vào việc lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cấp bách: Đẩy mạnh sản xuất rau màu, khắc phục nạn đói, vận động nhân dân đi học, đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, bài trừ nội phản, xây dựng đời sống mới.

Song song với nhiệm vụ xây dựng và củng cố chính quyền, Đảng bộ Ninh Bình xúc tiến xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Đội giải phóng quân của khu căn cứ địa cách mạng Quỳnh Lưu được chọn làm nòng cốt để xây dựng 6 đại đội tự vệ tập trung của tỉnh, được lựa chọn từ các đơn vị tự vệ các huyện và cơ sở. Thị xã Ninh Bình xây dựng đại đội tự vệ mạnh, gọi là đại đội Hoa Lư. Bên cạnh các đơn vị tự vệ, tỉnh xây dựng đại đội cảnh vệ bảo vệ chính quyền tỉnh. Các huyện xây dựng các trung đội xung phong. Các xã cũng có trung đội tự vệ, có nơi thành lập đại đội. Phong trào luyện tập quân sự diễn ra rất sôi nổi. Ở tỉnh, Ty liêm phóng thành lập lực lượng cảnh sát xung phong. Phần lớn trong lực lượng giải phóng quân, tự vệ, liêm phóng là đoàn viên, thanh niên.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Nam Bộ. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương tinh thần hy sinh, dũng cảm của quân và dân Nam Bộ và khẳng định: "Chúng ta nhất định thắng lợi, vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân. Chúng ta nhất định thắng lợi, vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính đáng" (1).

Phong trào “Nam tiến” lôi cuốn hàng chục vạn thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu. Các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ thành lập nhiều đại đội, chi đội, bao gồm những đoàn viên, thanh niên ưu tú, khẩn cấp tăng cường cho cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam. Từ đầu tháng 11 năm 1945, các đoàn tàu nườm nượp chở các chiến sỹ “Nam tiến” đi ra mặt trận, trong đó Ninh Bình có 3 đại đội gồm những đoàn viên, thanh niên cùng với những cán bộ, đảng viên trẻ tuổi sát cánh với nhân dân Nam Bộ, chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

Để chống giặc đói, theo đề nghị của Hồ Chủ tịch, Đảng ta phát động phong trào tăng gia sản xuất. Người ra lời kêu gọi: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của chúng ta ngày nay. Đó là cách thiết thực nhất của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập” (2).

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn thanh niên cứu quốc tỉnh huy động đoàn viên, thanh niên tham gia các tổ chức vận động quyên góp cứu đói, lập các “Hũ gạo cứu đói”, phát động phong trào “Ngày đồng tâm”, bớt bữa ăn hằng ngày để giúp đồng bào bị đói.

Với khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng”, “Không để một tấc đất bỏ hoang”, phong trào thi đua tăng gia sản xuất dấy lên mạnh mẽ khắp các vùng nông thôn đồng bằng, trung du, miền núi và cả ở thành phố, thị xã, thị trấn. Thanh niên Ninh Bình đã thành lập các đội khai hoang, phục hoá, biến những cánh đồng ngập úng thành ruộng lúa, biến những đầu vàn, bờ ngòi, bờ đồng, vành đai, bãi sông thành những vạt sắn, nương ngô và các loại rau màu ngắn ngày, kịp thời chống đói. Song song với cuộc vận động tăng gia sản xuất, chính quyền tỉnh ra lệnh cấm đầu cơ lương thực, cấm nấu rượu bằng gạo. Đoàn thanh niên cứu quốc thị xã Ninh Bình phát động phong trào quyên góp lương thực, tiền bạc để giúp đỡ khẩn cấp những gia đình bị đói. Thanh niên các huyện Gia Viễn, Yên Mô, Gia Khánh, Kim Sơn có phong trào đào mương lấy nước  chống hạn, bồi đắp lại những đoạn đê sông Đáy bị sạt lở từ cầu Gián Khẩu đến xã Ninh Phúc, đê sông Vạc, đê Cồn Thoi. Chính quyền cách mạng tỉnh tuyên bố bỏ thuế thân và một số thuế khác, giảm tô 25%. Nhân dân rất phấn khởi, hăng hái tham gia sản xuất, đời sống dần dần khá lên. Cuối năm 1945 đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh.

Thực hiện chủ trương giúp đỡ Chính phủ giải quyết khó khăn về tài chính, Đoàn thanh niên cứu quốc tỉnh Ninh Bình động viên đoàn viên, thanh niên tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia “Tuần lễ vàng”, đóng góp tiền, vàng gây “Quỹ độc lập”. Ở các huyện và thị xã Ninh Bình, Đoàn thành lập nhiều đội tuyên truyền đi xuống các khu phố, thôn xóm tuyên truyền, cổ động nhân dân, cổ vũ tinh thần yêu nước, vận động đồng bào quyên góp tiền, vàng cho Chính phủ, cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Tuy đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần yêu nước, chỉ một thời gian ngắn, nhân dân toàn tỉnh đóng góp được 1,2 triệu đồng và 105 lạng vàng vào “Quỹ độc lập”, Quỹ đảm phụ quốc phòng.

Cùng với những thắng lợi bước đầu trên mặt trận kinh tế, tài chính, chính quyền cách mạng có nhiều nỗ lực trên mặt trận giáo dục, văn hoá. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, một trong những vấn đề mà Trung ương Đảng và Bác Hồ quan tâm là phát động phong trào chống nạn mù chữ để mở mang dân trí cho nhân dân lao động, tạo điều kiện cho họ tự làm chủ bản thân và làm chủ đất nước. Bác Hồ nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ" (1). Bác nhắc nhở toàn dân hăng hái dạy và học chữ quốc ngữ: "Những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết chữ... những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưa biết thì chồng bảo, cha không biết thì con bảo... phụ nữ lại càng phải học". Người giao nhiệm vụ cho thanh niên: "Công việc này mong anh chị em thanh niên phải sốt sắng giúp đỡ". (1)

Thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Đi học là yêu nước”, “Học để kháng chiến, kiến quốc”, đoàn viên, thanh niên hăng hái tham gia phong trào diệt dốt. Ninh Bình là một trong những tỉnh thuần nông, đại bộ phận dân số là nông dân. Dưới chế độ thực dân, phong kiến, không có điều kiện đi học; do đó có tới 95% dân số mù chữ. Điều đó đặt ra cho tổ chức Đoàn phải có trách nhiệm vận động đông đảo đoàn viên, thanh niên của mình hăng hái tham gia dạy và học chữ quốc ngữ. Các cấp bộ Đoàn tổ chức và vận động những đoàn viên, thanh niên biết chữ cùng với học sinh, giáo viên tình nguyện tham gia dạy bình dân học vụ. Do đó, tuyệt đại bộ phận giáo viên là đoàn viên, thanh niên. Thanh niên cũng là lực lượng nòng cốt vận động nhân dân và những người chưa biết chữ đến lớp. Học tập là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ, là nguyện vọng của tuổi trẻ nên tuổi trẻ cũng là những người tham gia học tập đông đảo và nhiệt tình nhất. Các lớp bình dân học vụ được mở ra khắp nơi ở các thôn xóm, ở ngay trong các đình chùa hoặc ở nhà dân. Mỗi lớp có khi chỉ dăm bảy người, học vào buổi trưa hoặc buổi tối để mọi người còn tham gia sản xuất, công tác.

Mặc dù có rất nhiều khó khăn, nhưng phong trào thanh toán nạn mù chữ được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và đạt kết quả rất tốt. Chỉ tính riêng quý IV năm 1945, toàn tỉnh có 5432 người thoát nạn mù chữ. Riêng huyện Gia Khánh mở được 200 lớp học dạy cho 4000 người biết đọc biết viết. Đến cuối năm 1946, huyện Gia Khánh, có hàng vạn người thoát nạn mù chữ. Sau một năm thi đua diệt dốt, toàn tỉnh có trên 30 vạn người thoát nạn mù chữ. Ninh Bình là một trong những tỉnh được Chính phủ tặng Bằng khen về thành tích thi đua diệt dốt, có tỷ lệ thoát nạn mù chữ cao nhất trong cả nước.

Tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai trường năm học đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chủ tịch gửi thư cho học sinh toàn quốc, dặn dò các cháu cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn nghe lời thầy cô, thi đua với bạn bè để sau này đem tài năng đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Người ân cần khuyên bảo: "...Từ giờ phút này trở đi các cháu bắt đầu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam... Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không là nhờ một phần lớn vào công học tập của các em".(1)

Ở Ninh Bình, tuy còn bao công việc bề bộn nhưng Tỉnh uỷ và chính quyền các cấp lãnh đạo các đoàn thể, các cơ quan chức năng, các ngành tổ chức và vận động con em nhân dân lao động cắp sách đến trường ngay trong năm học đầu tiên 1945 - 1946. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng các trường học trong tỉnh vẫn tiếp tục mở cửa đón tiếp con em nhân dân lao động và các tầng lớp khác đến trường học tập. Điều khó khăn nhất lúc này là trường sở thiếu thốn nghiêm trọng. Số trường lớp cũ bị quân Nhật và quân Tưởng chiếm đóng, phá hoại hư hỏng nặng, trong khi số học sinh tăng lên rất nhiều. Các làng, xã sử dụng đình chùa, mượn nhà dân làm lớp học. Để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, các cơ sở Đoàn vận động những đoàn viên, thanh niên có trình độ văn hoá khá tình nguyện tham gia giảng dạy. Đồng thời tỉnh cũng mở cấp tốc các lớp đào tạo được trên 100 giáo viên để cung cấp cho các trường. Nhờ vậy, trường lớp phát triển đến tất cả các xã (lớp 1, lớp 2), liên xã (lớp 3, lớp 4). Số học sinh cũng tăng nhanh từ 7.230 học sinh năm học 1945 - 1946 tăng lên 10.200 học sinh năm học 1946 - 1947.

Tuy nhiên, thời gian này Ninh Bình chưa có trường trung học quốc lập, mới có một số trường trung học tư thục, như trường Hàn Thuyên từ Nam Định sơ tán về Yên Mô, trường Trương Hán Siêu ở Gia Khánh. Tính đến năm 1949, tổng số 980 học sinh trung học. Trong điều kiện rất khó khăn lúc đó, đây là một thành tích đáng kể.

Cuộc vận động xây dựng đời sống mới được đoàn viên, thanh niên Ninh Bình tham gia tích cực. Đây vừa là nhiệm vụ và cũng là nguyện vọng, sở thích của tuổi trẻ. Ở các thôn xóm đều có đội, tổ văn nghệ do Đoàn phụ trách. Các cuộc họp thôn, xóm, họp thanh niên, sinh hoạt Đoàn... thanh niên đều ca hát rất vui vẻ, làm cho không khí ở nông thôn, xóm phố trở nên vui tươi lành mạnh. Do đó, cuộc sống dù gặp nhiều khó khăn vất vả, đời sống vật chất còn nghèo nhưng ai cũng vui vẻ, phấn khởi. Đoàn viên, thanh niên đi đầu trong việc bài trừ các tệ nạn xã hội, như các hủ tục trong ma chay, cưới xin, rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện, mê tín, dị đoan, trộm cắp...

Đầu năm 1946, cuộc chiến đấu của nhân dân Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ đang diễn ra ngày càng quyết liệt. Tình hình kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân còn muôn vàn khó khăn. Nhưng để đưa đất nước đi lên theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, vấn đề xây dựng chính quyền và Nhà nước cách mạng vững mạnh có ý nghĩa quyết định, sống còn đối với đất nước lúc này. Vì thế, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được tổ chức trong cả nước. Đoàn viên, thanh niên Ninh Bình rất phấn khởi hăng hái tham gia các hoạt động chuẩn bị cho cuộc bầu cử ở địa phương, vận động đồng bào đi bầu cử. Những người gặp khó khăn về hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ không đi bỏ phiếu được, thanh niên xung phong mang hòm phiếu đến tận nhà để họ được làm nghĩa vụ công dân. Thanh niên rất tích cực tham gia bảo vệ, giữ  gìn trật tự an ninh ở các điểm bầu cử, tổ chức phát thanh, tuyên truyền và vận động nhân dân đi bầu cử đông đủ, đồng thời cảnh giác và đập tan những luận điệu xuyên tạc của bọn xấu và của kẻ thù. Cuộc bầu cử ở Ninh Bình đạt được kết quả tốt, trên 90,5% số cử tri đi bỏ phiếu,  bầu đủ 6 đại biểu. Đó là các ông Trần Công Chính, Lê Văn Cầu, Trương Văn Công, Phạm Văn Đống (tức Hồng), Phan Văn Vợi và Ngô Tử Hạ.

Tiếp sau đó, tháng 3 năm 1946, tuổi trẻ và nhân dân toàn tỉnh tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và xã. Uỷ ban hành chính được Hội đồng nhân dân bầu thay thế Uỷ ban nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành bầu cử cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại, nhất là sự chống phá của các phần tử xấu và bọn phản động.

Thắng lợi của các cuộc bầu cử làm tăng thêm lòng tin của quần chúng đối với Đảng, với Mặt trận Việt Minh, với chính quyền cách mạng, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, quyết tâm giữ vững và bảo vệ chính quyền cách mạng của toàn Đảng và toàn dân.

Ngày 13 tháng 1 năm 1946, trong không khí sôi nổi thi đua tăng gia sản xuất, đi học chữ quốc ngữ, ra sức xây dựng nếp sống mới và đấu tranh mạnh mẽ với các phần tử phản động thì tuổi trẻ và nhân dân Ninh Bình vô cùng phấn khởi và vinh dự, lần đầu tiên được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Người thăm đồng bào Phát Diệm (Kim Sơn), thăm lớp huấn luyện cán bộ quân chính đầu tiên của tỉnh tại thôn Yên Phúc (Ninh Phúc, huyện Gia Khánh, nay thuộc thành phố Ninh Bình) và nhân dân thị xã Ninh Bình. Tại Phát Diệm, đồng bào lương giáo hân hoan đón nhận lời Người căn dặn: "Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, hiện nay chúng ta có những nhiệm vụ chống đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm nên chúng ta phải đoàn kết thì mới làm tròn được nhiệm vụ"(1). Tại thị xã Ninh Bình, người khuyên: "Đồng bào Ninh Bình hết sức giúp đỡ vào việc đắp đê. Vì hiện nay dân ta còn đói. Trước kia ta đói vì Nhật, Pháp. Bây giờ ta đói vì vỡ đê, không đắp đê, nạn đói lại trở lại hành hạ chúng ta".(2)

Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc, đi đôi với nhiệm vụ củng cố và xây dựng chính quyền vững mạnh. Đảng ta chủ trương mở rộng công tác mặt trận, phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng như phụ nữ, nông dân, công hội, thiếu nhi, công giáo, phật giáo... Nhất là công tác thanh niên, đoàn kết tập hợp các tầng lớp thanh niên. Năm 1946, Đảng ta chủ trương thành lập Đoàn thanh niên Việt Nam (sau đổi là Liên đoàn thanh niên Việt Nam) (3) là thành viên của Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới, trong đó Đoàn thanh niên cứu quốc Việt Nam là lực lượng nòng cốt, thu hút đông đảo các tầng lớp thanh niên trong xã hội để họ có điều kiện cống hiến, rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt, phát huy vai trò to lớn của tuổi trẻ trong sự nghiệp chung của dân tộc.

Ở Ninh Bình, tổ chức Đoàn thanh niên Việt Nam được thành lập ở khắp nơi, thu hút hàng vạn thanh niên công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, tiểu thương, các tôn giáo, tiểu chủ, kể cả con em các tầng lớp trên... Đó là nguồn lực lượng rất quan trọng của Đoàn thanh niên cứu quốc, bổ sung cán bộ, hội viên cho các đoàn thể quần chúng, các ngành. Qua đó, Đoàn thanh niên cứu quốc phát triển ở khắp các vùng trong tỉnh và thành hệ thống từ cơ sở đến tỉnh. Được sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, các cơ sở Đoàn thanh niên cứu quốc hoạt động mạnh mẽ, phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ đi đầu trong mọi nhiệm vụ của địa phương.

Để đảm bảo cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc thắng lợi, vấn đề có tính quyết định là phải xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh về mọi mặt. Sau ngày tổng khởi nghĩa, toàn Đảng bộ tỉnh có 50 đảng viên. Đến tháng12 năm 1946, số lượng đảng viên tăng lên 120 đồng chí, đại đa số là đảng viên trẻ được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. Tất cả đều được phân công phụ trách các nhiệm vụ quan trọng trong các cơ quan chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang. Hầu hết anh chị em đều phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, được quần chúng tin tưởng. Nhiều người trở thành cán bộ ở các ngành, các cấp sau này.

Để tránh hiểm hoạ, cùng một lúc phải đối đầu với nhiều kẻ thù, Đảng chủ trương tạm hoà hoãn với Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ, theo đó, quân Tưởng phải rút khỏi miền Bắc, cho 15.000 quân Pháp vào thay thế trong vòng 5 năm và rút toàn bộ khỏi miền Bắc. Như vậy, ta đuổi được 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, dẹp được bọn phản động tay  sai của chúng, tạo thời gian vô cùng quý báu để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh vừa ra sức chống bọn phản động, vừa ra sức chuẩn bị kháng chiến. Từ giữa năm 1946, Uỷ ban bảo vệ các cấp được thành lập, chăm lo công việc chuẩn bị kháng chiến, dự trữ lương thực, thực phẩm, vũ khí, củng cố công, binh xưởng, tập trung chỉ đạo công tác kinh tế, tài chính, giao thông, lập kế hoạch đưa nhân dân đi tản cư, nhất là củng cố dân quân tự vệ, tổ chức tập luyện quân sự... Cuối năm 1946, chiến tranh lan rộng, Đảng bộ lãnh đạo thực hiện chủ trương phá hoại để kháng chiến. Quốc lộ 1A, đường số 10 và các đường giao thông huyết mạch, các địa phương tổ chức nhân dân phá hoại, đào hầm, đắp ụ cản địch, thực hiện vườn không nhà trống, thực hiện tiêu thổ kháng chiến...

Trước tình hình diễn biến ngày càng phức tạp, ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (mở rộng) họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết  tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Là người Việt Nam thì phải đứng lên chống thực dân Pháp, cứu Tổ quốc".

Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuổi trẻ và nhân dân cả nước nhất tề đứng lên giết giặc cứu nước. Đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc chiến đấu nổ ra ở thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Hải Dương, Huế, Đà Nẵng, Lạng Sơn...

Trước tình hình cấp bách đó, Đảng bộ Ninh Bình triệu tập Hội nghị cán bộ chủ chốt tỉnh để quán triệt Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng và“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị kiểm điểm, đánh giá tình hình, kiện toàn Ban chấp hành Đảng bộ, thống nhất chủ trương, thực hiện nhiệm vụ kháng chiến; phát động toàn quân, toàn dân trong tỉnh thực hiện chỉ thị của Đảng, cùng quân và dân cả nước quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập.

Ngày 8 tháng 1 năm 1947, Uỷ ban hành chính tỉnh thành lập Uỷ ban tản cư, giúp đỡ đồng bào các tỉnh tản cư về Ninh Bình. Ngày 10 tháng 2 năm 1947, Uỷ ban hành chính tỉnh phối hợp với Bộ Canh nông mở hội nghị bàn việc giúp đỡ đồng bào tản cư tại xã Lạng Phong (Nho Quan). Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị. Người chỉ rõ: "Ta phải tự cấp, tự túc để có thể trường kỳ kháng chiến được... Người có ăn, có mặc phải giúp đỡ đồng bào tản cư không có. Nhưng không phải giúp đỡ theo kiểu bố thí để ăn rồi ngồi đấy. Phải giúp đỡ đồng bào có cơm ăn việc làm, vì ta phải trường kỳ kháng chiến. Đó là bổn phận của đồng bào hậu phương. Tóm lại muốn thắng lợi ta phải trường kỳ kháng chiến và phải giúp đỡ đồng bào tản cư".(1)

Ngay tại hội nghị có 27 người xung phong nhận giúp đỡ 885 đồng bào, góp 48 tấn thóc, 110 mẫu ruộng, để khi đồng bào tản cư về có thóc ăn, có ruộng cày cấy, nhanh chóng ổn định đời sống và tham gia kháng chiến. Trong hai tháng 2 và 3 năm 1947, Ninh Bình chuẩn bị 2 khu vực để đón đồng bào thành phố Nam Định và các tỉnh tản cư về. Đồng thời thành lập một số trạm đón tiếp ở Duyên Mậu, Cống Thuỷ, Quyết Trung, Yên Liêu, Đồng Phú (Yên Khánh), Chợ Bút, Núi Bảng, Nộn Khê (Yên Mô). Uỷ ban hành chính tỉnh trích quỹ 167.000 đồng giúp đỡ đồng bào tản cư mua sắm nông cụ, trâu bò sản xuất.

Với ý chí quyết tâm kháng chiến thắng lợi, nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất để tự cấp, tự túc, thực  hiện “trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Vụ chiêm năm 1947, toàn tỉnh cấy được 130.500 mẫu, vụ mùa cấy được 87.797 mẫu, tăng gấp hai lần so với năm 1946. Huyện Gia Viễn là đơn vị đạt năng suất, diện tích và sản lượng cao nhất. Nhân dân trồng được 2000 mẫu bông, 300 mẫu cói, 350 mẫu lạc, phát triển thêm 1.750 khung dệt vải. Hãng thuốc lá “Việt Hương” (Nho Quan), sản xuất 15 vạn bao thuốc lá.

Là lực lượng xung kích cách mạng, đoàn viên, thanh niên Ninh Bình nô nức tham gia lực lượng vũ trang địa phương, hăng hái luyện tập quân sự, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật và kỹ năng chiến đấu để đối phó với mọi tình hình mà kẻ địch có thể gây ra. Năm 1947, toàn tỉnh có 2.247 du kích, phần lớn là đoàn viên, thanh niên đang ngày đêm canh gác, giữ gìn trật tự an ninh xã hội, bảo vệ quê hương, cảnh giác và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của kẻ thù.

Thực hiện Nghị quyết hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ II, để đáp ứng yêu cầu tình hình mới, Ninh Bình tập trung xây dựng lực lượng vũ trang. Đến cuối năm 1947, toàn tỉnh có 19.000 du kích, 36.281 dân quân, trong đó có 3.345 đảng viên. Năm 1948, mở được 800 lớp huấn luyện gồm 4 vạn bộ đội, du kích, dân quân tham gia. Chỉ trong đợt tập huấn quân sự lập thành tích chào mừng kỷ niệm lần thứ 58 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1948) có 10.339 đoàn viên, thanh niên tham gia. Tỉnh cử 33 trung đội, gồm 900 cán bộ, chiến sỹ
bộ đội địa phương, dân quân du kích tham gia chiến đấu cùng với quân và dân Nam Định, Hải Dương. Hai tháng 5 và 6 năm 1947, thành lập tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng (tiểu đoàn bộ đội địa phương đầu tiên của tỉnh). Tháng 9 năm 1947, thành lập đại đội Lê Lợi (đội du kích thoát ly của tỉnh). Mỗi huyện có từ 1 đến 2 trung đội du kích thoát ly (sau chuyển thành bộ đội huyện). Các xã thành lập các đơn vị dân quân, du kích phù hợp với tình hình và yêu cầu cụ thể của từng địa phương, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch khi chiến tranh lan tới địa phương.

Ngày 23 tháng 3 năm 1947, sau khi phá được vòng vây ở thành phố Nam Định, quân Pháp dùng tàu chiến, ca nô theo sông Đào, ngược sông Đáy đổ quân lên đánh vào các thôn Tiền Phong, Yên Vệ (Yên Khánh), thị xã Ninh Bình, xã Trường Yên (Gia Viễn, nay thuộc Hoa Lư), xã Lạng Phong (Nho Quan). Quân dân ta tổ chức đánh địch ở chùa Hẹ (Yên Khánh), núi Non Nước, núi Hồi Hạc, dọc sông Vân (thị xã Ninh Bình). Trận đầu đọ sức với lực lượng quân đội nhà nghề, được trang bị vũ khí hiện đại, lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xã chiến đấu rất ngoan cường, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, buộc chúng phải rút chạy về Nam Định. Thanh niên Lã Viết Lâm (quê xã Khánh Cư, Yên Khánh) dùng bazôka bắn cháy tầu chiến địch. Tại Đại hội luyện quân Liên khu ba được tặng danh hiệu “Vua bazôka”.

Tháng 4 năm 1947, Hội nghị Trung ương Đảng bàn về công tác thanh vận trong cuộc kháng chiến chỉ rõ: "Nhiệm vụ thiết thực của thanh niên trong thời kỳ này là tham gia bộ đội, dân quân để tác chiến, giúp đỡ việc tản cư, bình dân học vụ và tiểu học, đoàn kết các thanh niên, vận động thanh niên ra cứu nước".(1)

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời vạch ra nhiệm vụ cho thanh niên phấn đấu, góp phần thiết thực vào cuộc kháng chiến và xây dựng tương lai. Trong thư gửi thanh niên ngày 17 tháng 8 năm 1947, Bác căn dặn: "Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ nước nhà. Thực vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, ra sức làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó".(2)

Sau hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 4 - 1947), các cấp bộ Đảng trong tỉnh tổ chức các hội nghị thanh niên quán triệt nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc của thanh niên, đồng thời kiện toàn và củng cố tổ chức Đoàn các cấp. Tỉnh uỷ Ninh Bình họp với các huyện uỷ, với Tỉnh đoàn triển khai công tác thanh niên theo Nghị quyết của Trung ương Đảng. Thời gian này, tổ chức Đoàn có ở khắp nơi, kể cả vùng công giáo, miền núi, miền biển. Các xã thuộc các huyện đồng bằng và các nơi phong trào mạnh có tổ chức Đoàn 2 cấp (xã đoàn và chi đoàn), chí ít có chi đoàn với gần chục đoàn viên. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, các cơ sở Đoàn và đoàn viên, thanh niên phát huy được vai trò xung kích cách mạng trong mọi hoạt động luyện tập quân sự, tăng gia sản xuất, thanh toán nạn mù chữ, giúp đỡ đồng bào tản cư, tham gia dân quân, du kích, tòng quân giết giặc...

Lợi dụng lúc quân Pháp đánh vào Ninh Bình, bọn phản động núp trong đạo công giáo kích động quần chúng gây bạo loạn ở nhiều nơi thuộc các huyện Kim Sơn, Yên Khánh. Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng (tháng 4 năm 1947) về công tác trấn áp bọn phản động, Tỉnh uỷ Ninh Bình kịp thời huy động lực lượng dập tắt các vụ côn đồ gây bạo loạn; tổ chức mít tinh quần chúng vạch trần âm mưu phá hoại của bọn phản động, vạch mặt bọn tay sai phản động, đấu tranh kiên quyết với các hành động phản dân hại nước của chúng. Bộ đội, công an, dân quân du kích và đoàn viên, thanh niên tập trung bao vây, trừng trị bọn đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân.

Ngày 1 tháng 6 năm 1947, Hội nghị thi đua liên tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam được tổ chức tại xã Xuân An, (huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Hội nghị nghiên cứu, quán triệt mục đích, ý nghĩa, nội dung và phương pháp tổ chức, vận động phong trào thi đua ái quốc, phát động phong trào thi đua rộng rãi trong các tầng lớp, các giới đồng bào.

Phong trào thi đua ái quốc được đông đảo nhân dân toàn tỉnh nhiệt liệt hưởng ứng, nổi bật là phong trào toàn dân luyện tập quân sự, bình dân học vụ, tăng gia sản xuất, rào làng kháng chiến, thu hút trên 80.000 người tham gia. Phong trào tòng quân giết giặc cứu nước của đông đảo các tầng lớp thanh niên, với hàng vạn lượt người tham gia. Toàn tỉnh có 8.500 người tham gia dân quân du kích, góp tiền mua được 30 khẩu súng trường, 31.000 quả lựu đạn, 5.000 dao găm, 2.750 mã tấu. Trong đợt thi đua lập thành tích chào mừng ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19 - 5), có 14.607 thanh niên xung phong gia nhập vệ quốc đoàn và 2.840 thanh niên tham gia dân quân du kích. Toàn tỉnh xây dựng được 45 làng kháng chiến, trong đó huyện Nho Quan 6 làng, huyện Gia Viễn  8 làng, huyện Gia Khánh 10 làng, huyện Yên Khánh 15 làng... Phong trào bình dân học vụ phát triển mạnh. Kết quả, toàn tỉnh 80% số dân trong độ tuổi thoát khỏi nạn mù chữ.

Trong phong trào thi đua giết giặc lập công, đoàn viên, thanh niên các lực lượng vũ trang lập nhiều chiến công. 16h ngày 27 tháng 10 năm 1947, Đại đội 77, bộ đội tỉnh bắn rơi chiếc máy bay của Pháp tại xã Quang Sỏi (huyện Yên Mô, nay là xã Quang Sơn, thuộc thị xã Tam Điệp). Chiến công này góp phần cổ vũ tuổi trẻ và nhân dân toàn tỉnh tham gia chiến đấu, giết gặc lập công.

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng
(1 - 1948), Đảng bộ tỉnh Ninh Bình họp Đại hội đại biểu lần thứ III (2 - 1948) kiểm điểm hơn một năm chuẩn bị kháng chiến, phục vụ và trực tiếp chiến đấu. Nghị quyết Đại hội nêu rõ nhiệm vụ: Khẩn trương kiện toàn cơ quan quân sự tỉnh đội, huyện đội và xã đội. Các huyện tập trung lực lượng xây dựng làng chiến đấu, phát triển mạnh dân quân du kích (cả về chất lượng và số lượng). Mỗi huyện xây dựng một trung đội mạnh. Phát động toàn dân gìn giữ bí mật. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tận dụng đất đai trồng lúa, mầu, bông, dâu, mía, lạc; chăn nuôi gia súc, gia cầm... Ra sức phát triển các đoàn thể trong Mặt trận Liên Việt các cấp, tập trung xây dựng cơ sở kháng chiến ở vùng đồng bào công giáo, củng cố khối đoàn kết lương giáo. Tăng cường công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, củng cố cơ sở Đảng vững mạnh...

Sau thất bại nặng nề ở Việt Bắc thu đông năm 1947, thực dân Pháp chuyển hướng chiến lược chiến tranh xâm lược từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh lâu dài”, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Chúng ra sức củng cố nguỵ quân, phát triển nguỵ quyền, tranh thủ viện trợ của Mỹ, mở rộng chiến tranh. Năm 1948, địch tiến hành mở rộng vùng chiếm đóng theo chiến thuật “vết dầu loang”, tập trung quân đánh các tỉnh Sơn Tây, Hưng Yên, Hà Đông, Nam Định, Hoà Bình.

Trước tình hình đó, ngày 6 tháng 6 năm 1948, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ họp hội nghị mở rộng, xác định phương hướng đối phó với địch khi chúng đánh ra vùng tự do, tập trung lực lượng bộ đội địa phương, bộ đội cảnh vệ cùng dân quân du kích, bố trí trận địa ở những nơi  trọng yếu, sẵn sàng đánh trả, lập đội đánh mìn, sản xuất nhiều vũ khí, triệt phá cầu đường, đắp ụ, vận động nhân dân cất giấu của cải, đào hầm trú ẩn, rào làng kháng chiến, thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Các cơ quan của tỉnh, huyện bố trí gọn nhẹ, cơ động để có thể phân tán nhanh đến các nơi an toàn.

Ngày 28 tháng 9 năm 1948, Thường vụ Trung ương Đảng có chỉ thị gửi các cấp bộ Đảng “Việc củng cố thanh niên cứu quốc, phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam để thống nhất mặt trận thanh niên”. Bản chỉ thị nêu rõ: "Chủ trương của Trung ương là thống nhất mọi lực lượng thanh niên vào một mặt trận. Mặt trận ấy là Đoàn thanh niên cứu quốc phải là trụ cột và có một hệ thống chắc chắn từ trên xuống dưới. Đảng phải nắm chắc trụ cột ấy để điều khiển các tổ chức khác và các tầng lớp thanh niên rộng rãi trong cả nước"(1). Chỉ thị của Trung ương nêu lên nhiệm vụ cho các cấp bộ Đảng là phải "củng cố thanh niên cứu quốc và phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam. Đoàn thanh niên cứu quốc là đoàn thể tập hợp các thanh niên yêu nước, tích cực, cấp tiến, có tinh thần dân chủ rõ rệt. Thanh niên cứu quốc không những chỉ gồm những thanh niên nông dân mà còn phải bao gồm cả thanh niên trí thức, tiểu tư sản. Củng cố thanh niên cứu quốc còn phải đặc biệt củng cố các ban chấp hành"(2). Bản chỉ thị nhấn mạnh: Đoàn thanh niên Việt Nam cần phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên kể cả thanh niên con em gia đình phú nông, địa chủ, tư sản có tinh thần yêu nước, ủng hộ kháng chiến, phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam trong các vùng công giáo, ngay trong vùng bị chiếm đóng. Đoàn thanh niên Việt Nam lợi dụng những hoạt động hợp pháp để xây dựng tổ chức qua các hội bóng, hội nhạc, nhóm học tập của thanh niên.

Để phát huy được vai trò và trách nhiệm của tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên trong toàn tỉnh vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc, tháng 2 năm 1949, Hội nghị đại biểu Đoàn thanh niên cứu quốc Ninh Bình lần thứ nhất họp tại đình làng Xuân Áng (xã Ninh Xuân, huyện Gia Khánh, nay là huyện Hoa Lư). Hội nghị đánh giá các hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên, nhất là thời gian gần 2 năm diễn ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Hội nghị nhấn mạnh: Thông qua các phương thức hoạt động của Đoàn, thu hút được đông đảo các tầng lớp, các đối tượng thanh niên trong tỉnh tham gia. Trên cả hai mặt trận kháng chiến và kiến quốc, Đoàn thanh niên và tuổi trẻ tỉnh ta luôn luôn là lực lượng xung kích cách mạng, đi đầu thực hiện các nghị quyết của Đảng, hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được Đảng tin cậy giao phó. Hội nghị thông qua nhiệm vụ của Đoàn với tinh thần: “Tất cả để chiến thắng giặc Pháp xâm lược”.

Hội nghị bầu Ban chấp hành Tỉnh Đoàn, đồng chí Lê Thanh Đức được bầu làm Bí thư Tỉnh đoàn. Cuối năm 1949, đồng chí Lê Thanh Đức chuyển công tác, đồng chí Nguyễn Đăng Doanh được Ban chấp hành Tỉnh Đoàn bầu làm Bí thư Tỉnh Đoàn.

Chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947 và chiến thắng của cả nước trong những năm 1948 - 1949 làm cho thực dân Pháp lâm vào thế lúng túng, bị động.

Nhằm cứu vãn tình thế, tháng 5 năm 1949, Chính phủ Pháp cử đại tướng Rơ - ve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp sang Đông Dương nghiên cứu tình hình, xây dựng kế hoạch chiến tranh xâm lược mới mang tên “Kế hoạch Rơve” nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, phong toả biên giới Việt - Trung. Tăng cường xây dựng nguỵ quân, dùng nguỵ quân làm nhiệm vụ chiếm đóng; tập trung quân Âu Phi xây dựng lực lượng cơ động, mở những cuộc càn quét lớn.

Để đối phó với những âm mưu chiến lược mới của địch, Trung ương Đảng chỉ đạo tăng cường xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực thành lập những sư đoàn, trung đoàn đủ mạnh để đánh bại các cuộc càn quét lớn của địch. Đồng thời, Trung ương Đảng chỉ đạo các địa phương tập trung xây dựng bộ đội tỉnh, huyện, xây dựng lực lượng du kích tập trung ở xã, vận động nhân dân đóng góp cho kháng chiến.

Tỉnh uỷ Ninh Bình chỉ đạo các ngành, lực lượng vũ trang các huyện và thị xã Ninh Bình chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng chặn đánh các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, đại đội Lê Lợi, các đơn vị bộ đội địa phương huyện được bổ sung lực lượng, trang bị vũ khí và được bố trí chốt giữ ở những địa bàn hiểm yếu. Tỉnh uỷ điều động hàng trăm cán bộ về cơ sở, hướng dẫn nhân dân cất giấu lương thực, đào hầm, đắp ụ, chuẩn bị tản cư, thực hiện vườn không nhà trống khi giặc đến. Huyện Kim Sơn, các xã ven sông Đáy, dọc đường 1A, đường 10, đường 59, thị xã Ninh Bình, bố trí các trận địa phục kích. Nhân dân Yên Mô, Nho Quan góp tre, đóng cọc vót nhọn ở các bãi đất trống ở Đồng Giao, chống giặc đổ bộ bằng đường không.

Ngày 16 tháng 10 năm 1949, địch mở cuộc hành quân Ăngtơraxít (Anthracide), đưa 3 binh đoàn cơ động đánh chiếm các huyện phía nam Nam Định và Ninh Bình. Ở Ninh Bình, địch đưa 2.000 quân từ 6 tàu chiến đổ bộ lên địa bàn huyện Kim Sơn và cho 17 máy bay chở trên 300 quân nhảy dù xuống chiếm Phát Diệm.

Sau khi ổn định địa bàn chiếm đóng, quân Pháp thực hiện chiến thuật “vết dầu loang”, phối hợp với bọn phản động núp trong công giáo đánh ra các vùng lân cận. Ngày 19 tháng 10 năm 1949, chúng đánh lên Yên Khánh, chiếm nhà Tràng Phúc Nhạc. Ngày 20 tháng 10 năm 1949, chúng đánh vào các xã Tuy Lộc (Kim Sơn), Điền Hộ (Nga Sơn, Thanh Hoá), Hảo Nho, Nhân Phẩm, Yên Lâm (Yên Mô) và kéo xuống chốt vị trí Văn Hải (Kim Sơn). Cùng ngày, quân Pháp từ Nam Định, theo đường thuỷ đổ bộ chiếm đóng Khánh Trung (Yên Khánh). Ngày 23 và 24 tháng 10 năm 1949, chúng cho quân đánh chiếm đường 59, đóng chốt các vị trí Trung Đồng, Bình Hải, Giang Nại, Đình Tây, Côi Trì, Quảng Công, Trí Điền (Yên Mô) và Đức Hậu, Cầu Xanh (Yên Khánh).

Sau 15 ngày, quân địch chiếm đóng nhiều vị trí trên các vùng trọng yếu, hình thành tuyến phòng ngự bảo vệ Phát Diệm dài gần 30 Km từ cầu Xanh dọc theo sông Mới đến Điền Hộ (Nga Sơn, Thanh Hoá).

Đánh chiếm đến đâu, giặc Pháp tung ngay chiêu bài “chống cộng”, “giải phóng đất thánh”, “giành tự do cho công giáo”. Chúng thành lập nguỵ quyền, xây dựng tổ chức nguỵ quân, các đội “thanh niên diệt cộng”, thúc bọn tay sai lập tề, dõng, cho quân đi lùng sục bắt cán bộ, du kích, vơ vét của cải...

Trong những ngày đầu, lực lượng vũ trang của ta đối phó lúng túng. Địch quân đông, máy bay, tầu chiến, pháo yểm trợ, lại được bọn phản động tiếp tay nên nhanh chóng chiếm được huyện Kim Sơn, một phần huyện Yên Khánh và một số xã thuộc huyện Yên Mô. Hầu hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, du kích phải thoát ra ngoài. Số còn lại phải rút vào hoạt động bí mật. Nhân dân bị địch bắt ép vào làng tề, phải nộp lương thực, thực phẩm cho chúng. Tổ chức Đảng, tổ chức Đoàn hầu như không hoạt động được, phong trào thanh niên lắng xuống.

Để khôi phục phong trào, tăng cường hiệu lực chiến đấu, các đơn vị lực lượng vũ trang tổ chức rút kinh nghiệm, tìm ra những điểm mạnh, yếu của địch và ưu thế của ta để khai thác, vận dụng thực hiện nhiệm vụ chống địch càn quét. Điểm mạnh của ta là sống cùng nhân dân, được nhân dân che chở, giúp đỡ tận tình. Do đó, kẻ địch mạnh hơn ta về quân số và trang bị vũ khí nhưng vẫn bị bộ đội và du kích gây cho nhiều tổn thất đáng kể. Trong 23 ngày đêm chiến đấu, lực lượng du kích tiêu diệt 87  tên địch, phá một súng cối và thu một trung liên. Từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 10 năm 1949, bộ đội tỉnh tiêu diệt 150 tên địch. Tiêu biểu là quân dân các xã Khánh Trung, Khánh Hội (Yên Khánh), Yên Nhân, Yên Thái (Yên Mô), Trưng Nhị, Quang Thiện (Kim Sơn), bộ đội đại đội 149 (Yên Khánh), đại đội 147 (Yên Mô), đại đội 151 (Kim Sơn). Chiến công, thành tích ban đầu kịp thời động viên và cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân địa phương.

Để tập trung lực lượng, đáp ứng yêu cầu động viên mọi lực lượng cho cuộc kháng chiến, kiến quốc, ngày 25 tháng 11 năm 1949, Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến tỉnh tổ chức Hội nghị cán bộ vùng tạm chiếm. Sau khi nghe thư của Hồ Chủ tịch, nghe báo cáo về tình hình hoạt động của ta và âm mưu của địch, hội nghị khẳng định: Để phá tan âm mưu của địch: “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, phải lấy việc phục hồi cơ sở, tranh thủ nhân dân làm nhiệm vụ trọng tâm. Trước mắt, các huyện, xã vùng bị tạm chiếm, phải đưa ngay cán bộ, đảng viên, đoàn viên và du kích trở về cơ sở bám đất, bám dân, tổ chức nhân dân kháng chiến.

Sau hội nghị, Tỉnh uỷ cử một số Tỉnh uỷ viên, nhiều cán bộ tăng cường lực lượng cho ba huyện Kim Sơn,
Yên Mô, Yên Khánh giúp đỡ hồi phục, xây dựng cơ sở kháng chiến. Lực lượng vũ trang được chuyển đến các vị trí trọng yếu. Cán bộ và bộ đội ở ba huyện vùng tự do (Nho Quan, Gia Viễn, Gia Khánh) cũng được điều đến hỗ trợ các huyện phía Nam. Như vậy, đến tháng 12 năm 1949, trong số 21 chi bộ xã ở các nơi địch chiếm đóng có 20 chi bộ được khôi phục tiếp tục lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Trong thời gian này, các cơ sở Đoàn trong vùng bị tạm chiếm gặp nhiều khó khăn. Do bị địch đánh phá ác liệt, một số cán bộ Đoàn hy sinh, một số bị chúng bắt, một số khác phải thoát ra ngoài. Do đó, các cơ sở Đoàn không thể tiếp tục hoạt động; cán bộ, đoàn viên phải phân tán mỗi người một nơi, không liên lạc được với nhau, kể cả huyện đoàn. Do mất đầu mối, các chủ trương của Đoàn không đến được quần chúng thanh niên. Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, Tỉnh Đoàn Ninh Bình huy động cán bộ Đoàn ở tỉnh và các huyện đến giúp đỡ các huyện đoàn và cơ sở Đoàn các huyện phía nam. Đến cuối năm 1949 đầu năm 1950, tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên ở các huyện phía Nam tỉnh từng bước được khôi phục và phát triển.

Song song với việc xây dựng lại các cơ sở kháng chiến ở vùng địch tạm chiếm, Tỉnh uỷ giao nhiệm vụ cho Tỉnh đội dân quân chấn chỉnh, bổ sung quân số và vũ khí cho các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện; tổ chức rút kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo tác chiến và phòng thủ, chấn chỉnh các ban xã đội, nhất là vùng địch chiếm đóng, vùng du kích, vùng giáp ranh.


--------------------------------------------------------------------------------

Từ ngày 29 tháng 12 năm 1949 đến ngày 5 tháng 1 năm 1950, bộ đội tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, đại đội Lê Lợi, đại đội 147, đại đội 149... sau khi được củng cố, phối hợp với bộ đội chủ lực mở chiến dịch “Vạn Thắng” đánh địch trên địa bàn hai huyện Yên Mô và Yên Khánh. Trong chiến dịch này, bộ đội và du kích tiêu diệt các vị trí Quảng Công, Trí Điền (Yên Mô), Đình Tây, Văn Chỉ (Yên Khánh), phá gần 100 ban tề, bắt một số tên tề, nguỵ ác ôn, vận động được 20 nguỵ quân mang súng trở về với kháng chiến. Nhân dân các vùng bị chiếm đóng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nguỵ quân, nguỵ quyền hoang mang, lo sợ. Đến năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược. Việt Nam có vị thế trên trường quốc tế. Chính phủ Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân trên thế giới lần lượt công nhận Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Trung tuần tháng 1 năm 1950, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị toàn quốc lần thứ hai nhằm đánh giá những thắng lợi của quân và dân ta đạt được trong thời gian từ 1946 - 1949. Hội nghị nhận định: "Ta càng đánh, chính quyền nhân dân càng thêm vững chắc, tinh thần quân và dân ta càng cao, các lực lượng hoà bình và dân chủ trên thế giới càng ủng hộ nhiệt tình". Hội nghị đi đến quyết định: Gấp rút hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị chuyển cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sang giai đoạn tổng phản công. Hội nghị chủ trương thực hiện tổng động viên thời chiến, với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

Bước sang năm 1950, tổ chức Đoàn thanh niên cứu quốc và phong trào thanh niên phát triển ngày càng mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, nhằm thống nhất phong trào thanh niên và hệ thống tổ chức Đoàn trong cả nước, ngày 7 tháng 2 năm 1950, Đại hội đại biểu Đoàn thanh niên cứu quốc Việt Nam Toàn quốc lần thứ nhất  khai mạc tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, với trên 400 đại biểu đại diện cho toàn thể cán bộ, đoàn viên trong cả nước tham dự.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban Thường vụ Trung ương Đảng đến dự và trực tiếp chỉ đạo Đại hội. Đồng chí Nguyễn Lam, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn trình bày báo cáo chính trị nhan đề: Chiến đấu và xây dựng tương lai. Báo cáo đánh giá sự phát triển của Đoàn thanh niên cứu quốc và phong trào thanh niên từ năm 1941 đến năm 1949, đồng thời đề ra nhiệm vụ cấp bách của Đoàn và phong trào thanh niên nhằm thống nhất lực lượng thanh niên trong cả nước cùng toàn dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Sau 7 ngày làm việc, Đại hội đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ nhất thành công tốt đẹp. Đại hội nêu cao quyết tâm “Tất cả cho chiến thắng, tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâm lược”. Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu lại làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn.

Sau đó, Đại hội Liên đoàn thanh niên Việt Nam lần thứ nhất được tiến hành. Đây là sự thể hiện về khối đoàn kết của toàn thể thanh niên dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó Đoàn thanh niên cứu quốc là lực lượng nòng cốt, vì mục tiêu đẩy mạnh cuộc kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.

Đại hội Liên đoàn thanh niên Việt Nam lần thứ nhất vô cùng vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm. Người ân cần dặn dò các đại biểu phải làm tốt công tác giáo dục, tổ chức và động viên thanh niên cả nước đoàn kết, tích cực góp phần vào cuộc kháng chiến và chăm sóc nhi đồng. Đại hội bầu Ban chấp hành Liên đoàn thanh niên Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn thanh niên Việt Nam.

Đại hội nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế với thanh niên Lào, Căm pu chia và Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới, mà Liên đoàn thanh niên Việt Nam là thành viên chính thức từ năm 1946.

Công cuộc kháng chiến, kiến quốc ngày càng phát triển, vai trò của Đoàn thanh niên và công tác thanh niên càng to lớn. Đảng và Bác Hồ rất quan tâm đến công tác vận động thanh niên, giáo dục và rèn luyện thanh niên, đào tạo thanh niên thành lớp người kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc.

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 24 tháng 7 năm 1950 ra nghị quyết về vận động thanh niên, nêu rõ tầm quan trọng, vị trí, tính chất và nhiệm vụ của tổ chức thanh niên. Nghị quyết nhấn mạnh công tác vận động thanh niên là "Xung phong hoàn thành nhiệm vụ giải phóng của dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội" (1) dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời đào tạo một thế hệ thanh niên tiến bộ, giầu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản, có đủ khả năng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của cách mạng.

Nghị quyết đề ra 4 nhiệm vụ trước mắt của công tác vận động thanh niên là:

- Động viên thanh niên xung phong trong công cuộc kháng chiến, hoàn thành công việc chuẩn bị sang tổng phản công.

- Kiên quyết xây dựng tổ chức thanh niên trung kiên gần Đảng, phát triển rộng rãi mặt trận thanh niên.

- Đem lại quyền lợi thiết thực cho thanh niên, đặc biệt chú trọng vấn đề học tập văn hoá và nghề nghiệp cho thanh niên.

- Giáo dục thiếu niên nhi đồng.

Ở Ninh Bình, thắng lợi của chiến dịch Vạn Thắng động viên quân và dân toàn tỉnh tích cực tham gia kháng chiến. Tuy nhiên, sự đánh phá của địch ngày càng ác liệt. Địch tiến hành hàng loạt cuộc vây quét, lùng bắt cán bộ, đảng viên, bộ đội, đoàn viên thanh niên, du kích trở về địa bàn hoạt động, cướp thóc gạo, thực phẩm, bắt thanh niên vùng tạm chiếm đi lính, vào nguỵ quân, nguỵ quyền. Chúng biến nhà thờ, gác chuông thành nơi giam cầm, tra tấn, hành quyết cán bộ, chiến sỹ ta. Điển hình là ở nhà hát Nam Thanh (trong khu vực nhà chung Phát Diệm) và nhà Tràng Phúc Nhạc (Yên Khánh).

Để ngăn chặn tội ác của bọn vệ sỹ, ác ôn, thực hiện nhiệm vụ trừng trị bọn ác ôn và đại đội Phi Hùng, là đội quân hung ác nhất trong số 22 đại đội vệ sỹ của bọn phản động, lực lượng bộ đội, công an và du kích phối hợp tiêu diệt chúng. Nắm được các hoạt động của chúng, ngày 5 tháng 4 năm 1950, đại đội vệ sỹ Phi Hùng kéo sang Yên Mô càn quét. Lực lượng du kích cùng đại đội 195, bộ đội tỉnh và một số đại đội của trung đoàn 19 bộ đội chủ lực, phục kích tại thôn Yên Thổ. Sau nửa giờ chiến đấu, bộ đội và du kích tiêu diệt đại đội Phi Hùng, bắt sống 60 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Đây là trận chiến đấu mở đầu với tinh thần quyết tâm đánh thắng, ngăn chặn sự đánh phá của chúng, tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên, bộ đội, du kích, đoàn viên thanh niên... luồn sâu vào vùng tạm chiếm xây dựng cơ sở.

Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới với mục đích tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng vùng biên giới Việt - Trung, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính.

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 7 năm 1950, Đảng Đoàn thanh vận Trung ương quyết định thành lập Đội thanh niên xung phong công tác Trung ương đầu tiên để phục vụ chiến dịch Biên giới gồm 225 đội viên, là những đoàn viên, thanh niên tích cực nhất ở các địa phương.

6 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, quân ta nổ súng đánh cứ điểm Đông Khê, mở màn chiến dịch Biên giới. Sau 38 ngày chiến đấu quyết liệt, ngày 23 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút chạy. Trong chiến dịch này, quân địch bị tiêu diệt 10 tiểu đoàn, và bị bắt sống 8.300 tên, đa số là lính Âu Phi, trong đó có 8 tiểu đoàn bị diệt gọn, chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược toàn Đông Dương của thực dân Pháp. Đây là lực lượng tinh nhuệ nhất của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Giải phóng 35.000 dân với diện tích 4.500 km2, vùng biên giới Việt - Trung được giải phóng.

Thắng lợi chiến dịch Biên giới là thắng lợi của sự phối hợp giữa tiền tuyến và mặt trận sau lưng địch, của toàn chiến trường Đông Dương trong đó có sự đóng góp của tuổi trẻ và nhân dân Ninh Bình. Trong 2 tháng 4 và 5 năm 1950, phối hợp với các lực lượng vũ trang, tuổi trẻ và nhân dân Ninh Bình tập trung phá tề, trừ gian, diệt ác. Được nhân dân giúp đỡ, lực lượng vũ trang phá 25 ban tề, trừng trị 13 tên tề ác có nhiều nợ máu, bắt 72 tên tề ác đưa đi cải tạo. Nhân dân 3 huyện Kim Sơn, Yên Mô, Yên Khánh vận động được 400 vệ sỹ bỏ ngũ trở về với kháng chiến.

Phối hợp với chiến dịch Biên giới cuối năm 1950, lực lượng vũ trang Ninh Bình mở đợt hoạt động mạnh, phá nguỵ quyền, xây dựng chính quyền nhân dân, phát triển chiến tranh du kích. Đầu tháng 12 năm 1950, bộ đội huyện Yên Khánh chặn đánh 2 tiểu đội địch đi cướp phá, tiêu diệt và thu toàn bộ vũ khí. Nhân dân 3 huyện phía Nam tỉnh cùng lực lượng vũ trang nổi trống, mõ, tù và, gọi loa địch vận, bắn súng vào các đồn bốt suốt 10 đêm liền, làm cho chúng mất ăn mất ngủ, hoang mang, dao động, có 30 tên ra hàng, bắt 74 tên tề ác, 29 tên chỉ điểm.

Sau chiến thắng Biên giới thu đông năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ cả về thế và lực. Kế hoạch Rơve căn bản bị phá sản. Thực dân Pháp nhận thấy, chúng không thể chiến thắng được quân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh bằng quân sự. Được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức, trực tiếp viện trợ, chính phủ Pháp cố sức đưa ra kế hoạch mới do tướng Đờ-lát Đờ tát-xi-nhi khởi xướng, tập trung lực lượng, củng cố phòng ngự ở đồng bằng Bắc Bộ, chuẩn bị điều kiện đánh ra vùng tự do để giành lại thế chủ động. Cả Chính phủ Pháp và Chính phủ Mỹ đều hy vọng vào tài thao lược của vị tướng “lừng danh” này để nhanh chóng xoay chuyển tình thế.

Phối hợp với chiến trường chính, bộ đội và du kích Ninh Bình cùng bộ đội đại đoàn 304, luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm từ Kim Sơn đến Nga Sơn (Thanh Hoá), đánh vào các vị trí then chốt của địch làm hậu thuẫn cho các cơ sở Đảng, chính quyền, các đoàn thể và du kích hoạt động, tổ chức và vận động nhân dân tham gia kháng chiến. Sau gần hai tháng, bộ đội và du kích tiêu diệt 14 vị trí địch, đánh tan hai đại đội Âu Phi, 1 tiểu đoàn nguỵ, loại khỏi vòng chiến  đấu 294 tên, giải phóng 6 xã của huyện Yên Mô.

Tiếp theo chiến thắng chiến dịch Trần Hưng Đạo, tháng 11 năm 1950, đội công an số 6 của công an tỉnh, trong đó, đa số là đoàn viên, thanh niên do đồng chí Phạm Văn Bổng (tức Oanh) chỉ huy phối hợp với lực lượng vũ trang huyện Kim Sơn đánh vào nhà Lê Phát (Phát Diệm), nơi đặt câu lạc bộ sỹ quan Pháp và nguỵ quyền. Mìn nổ, nhà sập, gần 100 tên sỹ quan và binh lính Pháp bị tiêu diệt. Thắng lợi này vừa cổ vũ tuổi trẻ và nhân dân trong tỉnh, làm cho kẻ địch hoang mang.

Mùa thu năm 1950, quân ta mở chiến dịch Lê Lợi (Hoà Bình). Quân và dân Ninh Bình vừa tổ chức chiến đấu phối hợp với chiến trường chính, vừa vận động nhân dân đóng góp sức người, phương tiện, tiền gạo... phục vụ chiến trường. Trong hai tháng 9 và 10 năm 1950, Ninh Bình có 9.500 người đi dân công phục vụ tiền tuyến, trong đó có 2.750 đoàn viên, thanh niên, góp 2.700 chiếc thuyền đưa bộ đội qua sông, góp 920 chiếc võng để tải thương, làm 214 nhà lán trong vùng địch hậu để bộ đội trú quân, vận chuyển 2.097 tấn gạo ra mặt trận, 2.523 thanh niên xung phong nhập ngũ.

Nữ thanh niên Công giáo Bùi Thị Nhạn, người xã Kim Định (Kim Sơn), năm 1950, được phân công làm nhiệm vụ trong vùng địch hậu, nhiều lần bị địch bắt, chị đều trốn thoát để tiếp tục hoạt động, sau đó chúng bắt lại. Dù bị tra tấn rất dã man nhưng chị vẫn giữ được bí mật cho cơ sở. Ngày 18 tháng 10 năm 1950, giặc Pháp đưa chị ra hành quyết ở phiên chợ Hồi - Thuần, hòng uy hiếp tinh thần của giáo dân. Chị hiên ngang trước mũi súng của quân giặc, không cho chúng bịt mắt và hy sinh anh dũng trước sự cảm phục của mọi người, gây tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần yêu nước và chí căm thù giặc trong tuổi trẻ và nhân dân toàn huyện.

Tại Ninh Bình năm 1951, cùng với việc xây dựng các binh đoàn tinh nhuệ, cơ động, thực dân Pháp ra sức bình định, phát triển nguỵ quân. Chúng đổi tên tiểu khu Phát Diệm thành phân khu Ninh Bình, sáp nhập Phát Diệm và Bùi Chu vào bắc phần Đông Dương.

Thực hiện kế hoạch Đờ-lát Đờ tát-xi-nhi, địch ra sức càn quét, vơ vét của cải, lập phòng tuyến trắng, tạo ra một hành lang không có làng mạc, dân cư, hòng cắt đường dây liên lạc của ta từ vùng tự do vào vùng tạm chiếm của chúng. Trong hai tháng 7 và 8 năm 1951, chúng đốt phá một vùng rộng lớn từ Gián Khẩu (phía bắc tỉnh) theo đường quốc lộ 1A, đường 10, sông Vạc đến Chính  Đại.

Với chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt, tăng cường cướp bóc, cưỡng bức thanh niên đi lính. Tăng cường càn quét, vây làng, vây chợ, phục kích bắt cóc thanh niên, mê hoặc thanh niên công giáo, dụ dỗ mua chuộc bằng tiền bạc, chức tước. Để phá tan âm mưu của địch, tổ chức Đoàn các cấp trong tỉnh có nhiều biện pháp, hình thức chống phá kế hoạch bắt lính của chúng, như phục kích chặn đánh các đoàn xe đi càn, không cho chúng vào làng bắt lính, bao vây, ngăn cản các xe bắt lính, đánh tháo cho thanh niên trốn về nhà. Tỉnh đoàn chỉ đạo tổ chức các Đại hội thanh niên công giáo, Đại hội nữ thanh niên, câu lạc bộ thanh niên... để giáo dục thanh niên về lòng yêu nước, căm thù giặc, tích cực tham gia phong trào chống địch bắt lính... thu hút thanh niên tham gia kháng chiến.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951) và nghị quyết của khu uỷ khu III, tháng 3 năm 1951, Tỉnh uỷ chủ trương tăng cường và củng cố bộ đội địa phương tỉnh, huyện và lực lượng dân quân du kích xã, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh. Các đơn vị như đại đội 29, đại đội 195, đại đội 198 được bổ sung quân số và trang bị đủ mạnh để luồn sâu vào trong vùng địch tạm chiếm. Điều động đại đội 198 về Yên Mô giúp đỡ bộ đội huyện và du kích xã. Tỉnh uỷ điều một số đồng chí tỉnh uỷ viên và cán bộ tham gia lãnh đạo lực lượng vũ trang.

Sau hơn một tháng hoạt động, bộ đội và du kích tỉnh  tiêu diệt 167 tên địch, làm bị thương 148 tên, phá huỷ 5 ô tô vận tải, diệt bọn tề ác ở các xã Yên Vân, Yên Ninh (Yên Khánh), Quy Hậu (Kim Sơn). Các chi bộ thuộc địa bàn phòng tuyến trắng lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống lấn chiếm phòng tuyến, vành đai cày cấy, tạo điều kiện hợp pháp để đấu tranh làm giảm sự hoạt động của địch. Hàng trăm đoàn viên, thanh niên và nông dân xã Khánh Cư kéo đến bốt Chùa Cao, phản đối địch khủng bố, cướp bóc, phải để cho dân cày cấy, làm ăn. Tuổi trẻ và nhân dân Yên Thái kéo đến bốt Lợi Hoà đấu tranh, buộc địch phải trả lại 30 con trâu bò mà chúng cướp của dân. Nhân dân dần dần trở về làng sản xuất, cấy được 1.825 mẫu lúa, trồng được 4.730 mẫu mầu. Tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng có cơ sở đứng chân trong vành đai trắng, lãnh đạo nhân dân kháng chiến.

Tính đến cuối năm 1950, tổng số đảng viên toàn tỉnh 13.823 đồng chí, 90% cơ sở Đảng ở vùng tạm bị chiếm được phục hồi, 4.778 đảng viên trở về bám đất, bám  dân, tổ chức xây dựng cơ sở kháng chiến. Toàn tỉnh phát triển 775 đảng viên mới, trong đó phần lớn tuổi thanh niên, có trên 50% là lực lượng vũ trang nhân dân. Các cơ sở Đoàn và phong trào thanh niên từng bước trở lại hoạt động, tổ chức, động viên thanh niên phát huy vai trò xung kích, đi đầu trong các nhiệm vụ kháng chiến.

Tháng 10 năm 1950, Tỉnh Đoàn triệu tập hội nghị cán bộ Đoàn toàn tỉnh kiểm điểm công tác, trao đổi kinh nghiệm hoạt động của Đoàn, nhất là việc xây dựng tổ chức Đoàn cơ sở, vấn đề tổ chức và vận động thanh niên tham gia các phong trào. Đồng thời, đề ra nhiệm vụ mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến:

- Quán triệt các Nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên và Đoàn thanh niên cứu quốc.

- Tăng cường củng cố cơ sở, củng cố các cấp bộ lãnh đạo của Đoàn, nhất là các vùng tạm chiếm.

- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đoàn viên, vận động đoàn viên, thanh niên tham gia tăng gia sản xuất và chiến đấu.

- Tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới.

Việc kiện toàn Ban chấp hành Đoàn các cấp được tiến hành song song với việc bồi dưỡng và đào tạo cán bộ. Trong 3 tháng cuối năm 1950, Tỉnh đoàn mở được 9 lớp bồi dưỡng cho 41 cán bộ huyện, xã. Sau đó, số cán bộ được bồi dưỡng đào tạo được bố trí vào các vùng tạm chiếm làm công tác vận động thanh niên. Trong 10 ngày cuối tháng 12 năm 1950, vận động được hàng nghìn thanh niên đi khám tuyển bộ đội, có 1.991 thanh niên trúng tuyển bổ sung vào bộ đội chủ lực, 521 thanh niên bổ sung vào bộ đội khu. Tỉnh Đoàn phát động phong trào “Ba tháng thi đua giết giặc lập công và tham gia sản xuất, tiết kiệm”. Kết quả phong trào này, đoàn viên, thanh niên trong tỉnh góp phần tiêu diệt 300 tên địch, bắt sống 22 tên, vận động được 49 vệ sỹ bỏ ngũ, phá 26 ban tề... Trồng được 980 mẫu khoai lang, 613 mẫu mầu, chuyển 400 tấn lương thực của Chính phủ ra vùng tự do.

Cùng với việc chống địch càn quét, cướp bóc, lập vành đai trắng, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương, Tỉnh uỷ tập trung lãnh đạo quân và dân toàn tỉnh chuẩn bị chiến trường cho bộ đội chủ lực mở chiến dịch Quang Trung (Hà Nam Ninh), hướng chính đánh địch trên địa bàn Ninh Bình, nhằm phá tuyến phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ của địch, làm thất bại kế hoạch bình định của Đờ-lát Đờ tát-xi-nhi.

Thực hiện kế hoạch của Tỉnh uỷ, cơ quan Tỉnh đoàn lúc này chỉ có 10 người đều được phân công đi làm công tác phục vụ chiến dịch. Các huyện đoàn và các xã đoàn có bao nhiêu người cũng dồn hết cho công tác chuẩn bị phục vụ chiến dịch. Với tinh thần “Tất cả cho chiến dịch, tất cả để chiến thắng”, tuổi trẻ và nhân dân Ninh Bình đóng  góp 20.000 cây tre, vầu; 10.000 con trâu, bò, lợn; vận chuyển 500 tấn gạo tiếp tế cho bộ đội; đóng 3.000 thuyền; dựng 1.000 lán trú quân... thanh niên và nhân dân đóng góp 50.000 ngày công phục vụ chiến trường. Nhiều tấm gương tiêu biểu của đoàn viên, thanh niên tham gia dân công phục vụ chiến dịch được Tổng cục cung cấp và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh khen, như Lê Thị Minh, Chu Văn Úc (Uỷ viên Ban chấp hành huyện Đoàn Nho Quan), Nguyễn Thành Trung (cán bộ huyện đoàn Gia Viễn)... Toàn tỉnh có 6.131 đoàn viên, thanh niên đi dân công phục vụ chiến dịch, làm nhiệm vụ tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, cáng tải thương binh... phục vụ bộ đội đánh giặc.

Đêm 28 tháng 5 năm 1951, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch Quang Trung. Lực lượng ta tập trung ở hướng chính là Ninh Bình, có 6 trung đoàn và 2 đại đoàn 308 và 304. Đợt đầu chiến dịch, bộ đội ta đánh nhiều trận công kiên thắng lợi. Đại đoàn 308 lần đầu tiên tiêu diệt toàn bộ quân địch trong một tỉnh lỵ (Ninh Bình). Một đại đội huấn luyện của địch gồm toàn bộ sỹ quan người Âu đóng ở nhà thờ Đại Phong bị diệt gọn trong 45 phút. Tên quan hai Becna, con trai của tướng Đờ-lát Đờ tát-xi-nhi bị tử trận. Trong trận đánh đồn núi Non Nước, tổ 3 chiến sỹ trẻ Khương, Lục, Xá sáng tạo lối đánh hiệp đồng toàn tổ, thọc sâu, chia cắt diệt địch trong trung tâm. Trong trận Hồi Hạc, đại đội phó trẻ tuổi Nguyễn Quốc Trị nêu gương một cán bộ chỉ huy linh hoạt, mưu trí. Một số đơn vị thuộc đại đoàn 304 lần đầu đánh công kiên tiêu diệt nhiều vị trí địch có từ một đến hai trung đội chốt giữ, như Yên Vệ, Bến Xanh, Yên Mô thượng, Cô Đôi.

Hoà chung với tiếng súng tiến công trong chiến dịch, thừa lúc nguỵ quyền, nguỵ quân đang hoang mang, dao động, các chi bộ Đảng và chính quyền xã trong vùng tạm chiếm lãnh đạo quân dân vùng lên phá vỡ 5 ban tề tổng, 26 ban tề xã, giải phóng 4 xã Yên Nhân, Yên Phong (Yên Mô), Khánh Hoà, Khánh Thịnh (Yên Khánh), diệt bốt Cầu Xanh. Đặc biệt, ngay từ đầu chiến dịch (ngày 30-5-1951), 30 du kích là đoàn viên, thanh niên thôn Yên Thịnh (Yên Mô) dưới sự chỉ huy của đồng chí trung đội trưởng là phân đoàn trưởng, xung phong đánh đồn Yên Thịnh (xã Khánh Thịnh, nay là xã Khánh Dương, Yên Mô) thu toàn bộ vũ khí. Bộ đội và du kích phá vỡ phòng tuyến sông Vạc, chọc thủng phòng tuyến đường 59, dồn địch vào phía trong đường số 10. Trong chiến dịch này, quân và dân Ninh Bình phối hợp chiến đấu cùng bộ đội chủ lực tiêu diệt 3.585 tên, làm bị thương 654 tên, bắt sống 795 tên, thu 677 súng các loại, phá huỷ 32 ôtô, bắn chìm 1 tàu chiến, 3 ca nô, bắn rơi 2 máy bay.

Ngày 20 tháng 6 năm 1951, chiến dịch Quang Trung kết thúc. Nhận xét về chiến dịch này, đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: "Chiến thắng của Ninh Bình trong chiến dịch Quang Trung là một trận công kích thắng lợi đầu tiên trên chiến trường đồng bằng..." (1) góp phần quan trọng làm thất bại kế hoạch chiến tranh của
Đờ-lát Đờ tát-xi-nhi.

Được sự giáo dục của Đoàn và sự hướng dẫn cụ thể của các anh chị phụ trách, các em thiếu nhi cũng đóng góp sức mình cho cuộc kháng chiến, kiến quốc của toàn dân. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ : "Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”, Tỉnh đoàn và các cấp bộ đoàn tổ chức, hướng dẫn các em làm công tác Trần Quốc Toản. Bác Hồ viết: "Bác không mong các cháu tổ chức đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc và lập được nhiều chiến công, mà cốt để tham gia kháng chiến bằng cách giúp đỡ đồng bào... Đội này thi đua với đội khác, mỗi tháng một lần các đội báo cáo cho Bác biết, đội nào giỏi hơn Bác sẽ gửi giấy khen".

Ở nhiều huyện, xã trong tỉnh thành lập các đội Trần Quốc Toản, thu hút các em tham gia hoạt động rất nhiệt tình và đem lại kết quả rất tốt. Đi đôi với việc chăm chỉ học tập, vâng lời thầy cô và các anh, chị phụ trách, giúp đỡ gia đình, bố mẹ làm tốt các công việc hàng ngày, giúp đỡ bạn bè và các em nhỏ... Các em còn tham gia vào công tác xã hội như giúp đỡ các gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ, các chú thương binh, gia đình neo đơn, vệ sinh làng xóm, dạy bình dân học vụ, tuyên truyền cổ động “Tuần lễ mùa đông binh sỹ”... với nhiều hình thức rất đa dạng, phong phú phù hợp với khả năng và sở trường của từng em như tham gia phát thanh, tuyên truyền cổ động, viết khẩu hiệu, biểu diễn văn nghệ, quyên góp tiền ủng hộ kháng chiến.

Trong suốt những năm kháng chiến, nhiều tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp to lớn, lập công xuất sắc hoàn thành các nhiệm vụ, đảm bảo thông tin liên lạc, vừa chăn trâu, cắt cỏ, mò cua bắt ốc, vừa thăm dò, quan sát tình hình hoạt động của địch, báo cho bộ đội, du kích để đánh chúng đạt hiệu quả. Có em đi bán thuốc lá, bánh kẹo vào tận trong đồn địch để quan sát cách bố trí, các loại súng ống, hầm hào, nơi ăn chốn ở, cách đi lại, sinh hoạt của chúng, về vẽ lại sơ đồ cung cấp cho bộ đội, du kích, xây dựng phương án tác chiến.

Trong thư gửi cán bộ phụ trách về vấn đề giáo dục thiếu nhi tháng 11 năm 1949, Bác Hồ có lời khuyên: "Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết: Yêu Tổ quốc, thương đồng bào, chuộng lao động, giữ gìn kỷ luật, biết vệ sinh, học văn hoá.

Ngày nay, chúng là thiếu nhi, ít năm sau chúng là công dân, cán bộ. Vì vậy, Chính phủ, các đoàn thể có trách nhiệm giúp sức vào việc giáo dục thiếu nhi. Công việc ấy, phụ nữ và thanh niên phải là người phụ trách chính, nhất là thanh niên.

Giáo dục thiếu nhi là một khoa học. Vậy các bạn phải cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để tiến bộ mãi. Nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc" (1).

Thông qua các hoạt động thực tế và sự dìu dắt của anh chị phụ trách, tập hợp được đông đảo các em vào đội Thiếu nhi Tháng Tám. Đến tháng 12 năm 1951, toàn tỉnh thành lập được 546 đội Thiếu nhi Tháng Tám với 20.224 đội viên, qua đó để giáo dục, rèn luyện các em ngày càng tiến bộ, phấn đấu trở thành đoàn viên, thanh niên cứu quốc Việt Nam.

Bước sang năm 1952, cuộc kháng chiến của quân và dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Việc chuẩn bị nhân tài vật lực cho cuộc tổng phản công đòi hỏi phải tăng cường bồi dưỡng sức dân, củng cố xây dựng vững mạnh các tổ chức Đảng, các đoàn thể quần chúng trong mặt trận Liên - Việt, củng cố lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và trang thiết bị, kỹ thuật, chiến thuật.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới, tháng 8 năm 1952, Đảng bộ Ninh Bình họp Đại hội đại biểu lần thứ VI. Đại hội đánh giá: Trong tình hình muôn vàn khó khăn phức tạp, nhưng đảng bộ lãnh đạo quân và dân toàn tỉnh đoàn kết nhất trí, vượt qua mọi thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, đáp ứng yêu cầu của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đại hội đề ra nhiệm vụ: tổ chức và động viên nhân dân vùng lên chiến đấu, giành quyền làm chủ, góp phần cùng cả nước giành thắng lợi hoàn toàn.

Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh, công tác vận động thanh niên có sự chuyển biến đáng kể. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đoàn các cấp được bổ sung vào cấp uỷ. Được sự lãnh đạo sát sao của Đảng, công tác tổ chức, vận động thanh niên, phát huy được vai trò của thanh niên trong mọi nhiệm vụ ở địa phương, thu hút đông đảo các tầng lớp thanh niên tham gia hoạt động trong các tổ chức, các phong trào thanh niên do Đoàn phát động. Đến cuối năm 1952, số lượng đoàn viên, thanh niên cứu quốc toàn tỉnh lên tới 17.310 đồng chí, trong đó 11.883 nữ, 887 người theo đạo công giáo. Tính cả số anh chị em trong Liên đoàn thanh niên Việt Nam thì số đoàn viên, thanh niên đứng trong tổ chức do Đoàn làm nòng cốt lên tới trên 90% tổng số thanh niên toàn tỉnh.

Cuối năm 1952, địch âm mưu mở cuộc càn quét lớn để cướp thóc gạo của nhân dân vừa mới thu hoạch, uy hiếp các xã thuộc vùng tự do của huyện Yên Khánh, Gia Khánh, Yên Mô, nhằm chặn đường giao thông, liên lạc giữa vùng tự do và vùng địch hậu, đề phòng sự tấn công của bộ đội. Ngày 11 tháng 10 năm 1952, địch mở cuộc càn với lực lượng dùng 6 tiểu đoàn quân cơ động Âu Phi và quân địa phương, 39 khẩu pháo, 41 máy bay, 16 xe bọc thép, đốt 604 nóc nhà, 2.000 thùng thóc, giết 370 trâu, bò, bắt giữ 1.500 người. Được sự hỗ trợ của đại đoàn 320, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch, chặn đứng cuộc càn quét. Tháng 10 năm 1952, quân và dân trong tỉnh đánh 82 trận, diệt 461 tên địch; phối hợp với bộ đội chủ lực đánh 56 trận, diệt 292 tên, bắt sống 136 tên. Huyện Yên Mô vận động được 56 binh sỹ bỏ hàng ngũ địch, cầm súng trở về với nhân dân.

Dựa vào viện trợ của Mỹ, Chính phủ Pháp đề ra kế hoạch Nava nhằm giải quyết chiến tranh Đông Dương trong vòng 18 tháng. Chính phủ Pháp hy vọng tạo được thế và lực quân sự làm cơ sở cho giải pháp chính trị trên thế mạnh. Chỉ một thời gian ngắn, Nava được tăng quân số từ 338.000 quân lên 465.000 quân.

Bước vào đông - xuân 1953 - 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành được những thắng lợi to lớn. Tháng 9 năm 1953, Bộ chính trị Trung ương Đảng họp bàn kế hoạch tác chiến đông - xuân 1953 - 1954. Bộ chính trị chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo thời cơ để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch, phối hợp với các chiến trường Đông Dương, chuẩn bị điều kiện tiến lên giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.

Để đối phó với lực lượng ta ở Tây Bắc, ngày 20 tháng 11 năm 1953, quân Pháp vội vã đưa 6 tiểu đoàn nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Đến tháng 3 năm 1954, địch tăng quân ở Điện Biên Phủ lên 17 tiểu đoàn, 10 đại đội. Ngoài ra, còn có 3 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đơn vị vận tải 200 xe, 1 phi đội không quân thường trực 12 máy bay.

Ngày 16 tháng 12 năm 1953, Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thông qua kế hoạch tác chiến của tổng quân uỷ và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

Phối hợp với các chiến trường trên cả nước, nhân dân và tuổi trẻ Ninh Bình tích cực đẩy mạnh mọi hoạt động nhằm tiêu diệt địch ngay trên quê hương Ninh Bình, kìm chế chúng ở vùng đồng bằng, mở rộng vùng tự do, thực hiện nhiệm vụ chi viện chiến trường chính trong chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong thời gian này, phong trào chống địch bắt lính và công tác địch vận được triển khai mạnh mẽ và mở rộng dưới nhiều hình thức phong phú. Các cấp bộ Đoàn tăng cường công tác tuyên truyền thanh niên và nhân dân, vạch trần âm mưu thủ đoạn bắt thanh niên đi lính chống lại nhân dân. Đồng thời, cùng với thanh niên vạch các phương án chống lại kế hoạch bắt lính của địch.

Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, nhân dân và lực lượng du kích, đi đầu là những đảng viên và đoàn viên thanh niên dũng cảm ngoan cường, đánh bại cuộc càn quét của địch vào khu du kích Khánh Trung - Khánh Thiện ngày 3 tháng 10 năm 1953 với lực lượng hai trung đoàn cơ động cùng bọn nguỵ quân, nguỵ quyền. Tuổi trẻ và nhân dân Khánh Trung, Khánh Thiện vinh dự được nhận phần thưởng thi đua giết giặc lập công thu đông 1953 của Hồ Chủ tịch và Huân chương kháng chiến hạng Nhì.

Góp phần vào chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954, quân và dân Ninh Bình đánh địch nhiều trận ở Yên Khánh, Kim Sơn, Yên Mô. Bộ đội địa phương cùng với du kích phục kích chặn đánh các cuộc càn quét lấn chiếm ra vùng tự do để cướp phá, bắt thanh niên đi lính, hoặc tập kích đánh vào các vị trí của địch, gây rối làm cho chúng mất ăn mất ngủ, hoang mang dao động, vận động binh lính địch bỏ ngũ... gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Đảng bộ, quân và dân Ninh Bình dốc sức phục vụ tiền tuyến, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Cuối năm 1953,  3.716 thanh niên nhập ngũ, bổ sung kịp thời cho bộ đội chủ lực, trên 1 vạn thanh niên và nhân dân đi dân công hoả tuyến, chuyển tải hàng hoá, quân trang, quân dụng, thuốc men, đạn dược lên Điện Biên Phủ. Chỉ trong 24 giờ, Ninh Bình huy động được 600 tấn gạo kịp đưa ra tiền tuyến.

Để kìm chân địch, buộc địch phải ra sức đối phó, lực lượng vũ trang địa phương tập trung phá tề, diệt ác ôn, tiếp tục mở rộng vùng giải phóng, giúp đỡ nhân dân ổn định nơi ăn chốn ở, đẩy mạnh sản xuất. Suốt trong đông xuân 1953 - 1954, quân và dân Ninh Bình tiêu diệt 9 trong số 18 chi đội địa phương quân của địch; diệt, bắt sống, làm bị thương 2.539 tên, bắn rơi 1 máy bay, phá huỷ 71 xe cơ giới, thu 978 súng các loại, hàng chục tấn đạn dược, quân trang quân dụng. Đến tháng 4 năm 1954, vùng giải phóng của 3 huyện phía Nam tỉnh được mở rộng, hàng vạn dân được trở về thôn xóm, dựng lại nhà cửa, ổn định cuộc sống, tiếp tục sản xuất.

Sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương về vũ khí, đạn dược, phương tiện, cơ sở vật chất và nhất là lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ bắt đầu. Đợt tấn công thứ nhất quân ta tiêu diệt nhanh gọn hai cứ điểm Him Lam và Độc Lập, uy hiếp và gọi hàng cứ điểm Bản Kéo.

Giữa lúc đó, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn và Tỉnh uỷ Ninh Bình, Hội nghị đại biểu Đoàn thanh niên cứu quốc tỉnh Ninh Bình lần thứ II được tổ chức vào giữa tháng 4 năm 1954, tại thôn Trung Trữ (xã Ninh Giang, huyện Gia Khánh, nay là huyện Hoa Lư), có 250 đại biểu tham dự. Hội nghị tổng kết phong trào thi đua của tuổi trẻ toàn tỉnh nhiệm kỳ I, đề ra phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới. Hội nghị bầu Ban chấp hành Tỉnh Đoàn gồm 25 uỷ viên. Đồng chí Mai Khang được bầu làm Bí thư Tỉnh đoàn.

Ngày 19 tháng 4 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp nhận định về hai đợt tấn công của quân ta vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nêu rõ: quân ta tạo được những điều kiện căn bản, mở ra khả năng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, đồng thời chỉ ra những yếu kém, thiếu sót tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 1 tháng 5 năm 1954, ta mở đợt tấn công thứ ba, tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Sau ba ngày đêm chiến đấu quyết liệt, ta chiếm lĩnh những điểm cao còn lại ở phía đông và thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phiá tây, bộ đội ta xiết chặt vòng vây, chỉ còn cách sở chỉ huy địch 300 mét.

14 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, các cánh quân của ta tiến vào khu trung tâm. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, Tướng Đờ-cát-tơ-ri và toàn bộ Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, mạnh mẽ, quân ta tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954 kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch chiến tranh Đông Dương trong vòng 18 tháng của đại tướng Nava.

Ở Ninh Bình, từ ngày 20 - 6 - 1954,  hàng loạt bốt địch Ô Rô, Bãi Chè, Đồi Cao, Núi Rác, Đồi Ông Sư, Tôn Đạo tháo chạy. Nhân cơ hội này, bộ đội và du kích truy đuổi, tiêu diệt, thu vũ khí. Lính nguỵ ở các bốt Yên Ninh, Chùa Cao, Tuy Lộc, Chợ Trung, Kim Đài lần lượt bỏ súng ra hàng. Ở vị trí Đò Mười (Kim Sơn), binh lính nổi dậy giết chỉ huy, cầm súng trở về với nhân dân. Ngày 29 tháng 6 năm 1954, quân Pháp rút chạy khỏi Phát Diệm. Ngày 30 tháng 6 năm 1954, đơn vị lính Pháp cuối cùng rút chạy khỏi Phúc Nhạc. Bộ đội Yên Khánh, Kim Sơn cùng du kích các xã chặn đánh. Hơn 700 tên lính nguỵ ở Phúc Nhạc ra hàng. Ta thu 1 đại bác 105 mm, một đại bác 75 mm và nhiều súng đạn. Bọn nguỵ quân, nguỵ quyền lũ lượt kéo nhau ra hàng.

Ngày 30 tháng 6 năm 1954, Ninh Bình hoàn toàn giải phóng. Tại Phát Diệm, Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh tổ chức cuộc mít tinh lớn, chào mừng thắng lợi. Hơn 3.000 đồng bào lương giáo ở Phát Diệm và các xã phụ cận đến dự. Giữa rừng cờ và đông đảo nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh tuyên bố: Ninh Bình hoàn toàn giải phóng.

Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới". (1)

Được sự giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, Đoàn thanh niên cứu quốc tỉnh Ninh Bình phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và lao động, công tác, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân.

Các phong trào tòng quân, giết giặc lập công, tăng gia sản xuất, tiết kiệm, đi dân công hoả tuyến phục vụ bộ đội chiến đấu, phong trào đấu tranh trong các vùng bị tạm chiếm và các vùng tranh chấp, chống địch càn quét, cướp bóc, bắt thanh niên đi lính, phong trào du kích... được tổ chức, động viên, hàng chục vạn đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh không ngại hy sinh gian khổ, chiến đấu và phục vụ chiến đấu dũng cảm, góp phần đắc lực vào công cuộc giải phóng quê hương, xây dựng chế độ mới, đem lại độc lập tự do cho Tổ quốc, đem lại cuộc sống hoà bình và hạnh phúc của nhân dân.

 

--------------------------------------------------------------------------------

(1)  Văn kiện Đảng (1945 - 1954), tập I. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất  bản năm 1978, tr 30.

(1)   Hồ Chí Minh toàn tập, tập II, tr 25.

(2)  Hồ Chí Minh. Thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói 1945. Sđd,
trang 376.

(1) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập I. Nhà xuất bản Sự thật, tr 389.

(1) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập I. Nhà xuất bản Sự thật, tr 389.

(1)  Sđd trang 356.

(1), (2)  Báo Cứu quốc, số ra ngày 15 - 1 - 1946.

(3) Nay là Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam.

(1)  Biên bản hội nghị giúp đỡ đồng bào tản cư, di cư. Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Ninh Bình. 

(1), Văn kiện Đảng (1945 - 1954), tập II. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất  bản năm 1979, tr 43.

(2) Hồ Chí Minh, Về công tác giáo dục thanh niên. Nhà xuất bản thanh niên, năm 1980, tr 84.

(1), (2) Văn kiện Đảng (1945 - 1950), tập II. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất  bản năm 1979, tr 454.

(1)  Sđd trang 478.

(1)  Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ. 

(1)  Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên. Nhà xuất bản thanh niên, 1973,
tr 85, 86.

(1) Hồ Chí Minh, "Ba mươi năm hoạt động của Đảng vì độc lập tự do và CNXH", Nhà xuất bản Sự thật, tr 213.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Các bài viết mới:

 
 

   TAI LIEU NQ 1gfg

23658927 191601058072542 1599977414445083887 n

                               CUỘC THI TÌM HIỂU
                 VỀ BIÊN GIỚI VÀ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG

  CUOC-THI-BIEN-PHONG

TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM NINH BÌNH

 21272270 1486183624799881 7776314727266102898 n

CUỘC THI "TỰ HÀO VIỆT NAM" LẦN THỨ III,

NĂM HỌC 2019 - 2020

  8.-banner-website-1200px

CUỘC THI THANH NIÊN VỚI VĂN HÓA GIAO THÔNG

 

tải xuống

THANH NIÊN KHỞI NGHIỆP

images

TUỔI TRẺ NINH BÌNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Bac Ho

QUYẾT TÂM GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

Bien dao

DANH LAM THẮNG CẢNH NINH BÌNH

23.1 trang an cong nhan

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Nong thon moi





 

 

 

LỊCH SỬ ĐOÀN THANH NIÊN

Liên kết website

Hiện có 128 khách Trực tuyến

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay:1845
mod_vvisit_counterHôm qua:2863

Địa chỉ IP của bạn là: 3.94.200.93
Bạn đang xem: Home Tỉnh đoàn Ninh Bình Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Chương II: Thanh niên Ninh Bình tham gia bảo vệ, củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)